Chính phủ báo cáo về việc thực hiện chất vấn và trả lời chất vấn
Thưa các đồng chí lãnh đạo và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, cử tri cả nước,

Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 40/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 về chất vấn và trả lời chất vấn. Ngay sau Kỳ họp, Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên Chính phủ đã nghiêm túc triển khai Nghị quyết, khẩn trương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách gắn với thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, từng bước giải quyết những vấn đề mà Quốc hội, đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm. Trong và giữa hai kỳ họp Quốc hội, các thành viên Chính phủ đã có văn bản trả lời các chất vấn của đại biểu Quốc hội. Tại Kỳ họp này, các thành viên Chính phủ đã gửi Quốc hội báo cáo kết quả việc thực hiện các nội dung chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước tại các kỳ họp trước. Theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, tôi xin thay mặt Chính phủ báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội trong 4 lĩnh vực, bao gồm 22 nhóm nhiệm vụ như sau:

1. Lĩnh vực công thương

Về tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, giải quyết hàng tồn kho:

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Tập trung chỉ đạo chủ động thực hiện nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp về tiếp cận tín dụng, các chính sách hỗ trợ về thuế, phí, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý và các hiệp hội ngành hàng để kịp thời nắm bắt thông tin, mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Tồn kho của một số loại hàng đã giảm so với tháng 12 năm 2012 như sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, sản phẩm chế biến chế tạo, xe có động cơ... Tuy nhiên, sức mua của thị trường còn yếu, một số mặt hàng tồn kho lại tăng1.

Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện việc giãn, hoãn thuế theo thẩm quyền và trình Quốc hội về miễn, giảm thuế. Tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất (so với tháng 12 năm 2012 giảm khoảng 3 - 4%/năm), ưu tiên tín dụng cho các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Triển khai nhiều giải pháp để tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho một số ngành quan trọng, như:

Đối với ngành thép: Đã phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và phân phối thép giai đoạn đến năm 2020, không cấp phép cho các dự án mới có công nghệ lạc hậu, ô nhiễm môi trường và tiêu hao nhiều năng lượng. Đang chỉ đạo xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công nghệ, thiết bị sản xuất gang, thép làm cơ sở để thẩm định, quản lý các dự án sản xuất gang, thép và Quy định quản lý chất lượng sản phẩm thép sản xuất và tiêu thụ trong nước.

Đối với ngành cơ khí: Mở rộng diện áp dụng gói hỗ trợ 29.000 tỷ đồng theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2012 cho tất cả các doanh nghiệp (trước đó chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa); giảm lãi suất cho vay vốn lưu động, tiếp tục cho vay với lãi suất thấp hơn theo lộ trình, nâng hạn mức và kéo dài thời hạn vay; cho phép các doanh nghiệp được giãn thời gian nộp thuế VAT và thuế thu nhập doanh nghiệp; hỗ trợ kinh phí trong lĩnh vực chuyển giao, ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo cho doanh nghiệp.

Đối với ngành dệt may và thuốc lá: Đang tích cực tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách sử dụng tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất cho doanh nghiệp có dự án di dời.

Đối với ngành dầu thực vật: Thực hiện quy định về việc áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời đối với mặt hàng dầu thực vật nhập khẩu với mức thuế là 5% kể từ ngày 07 tháng 5 năm 2013 (trước đó là 0%) và sẽ có quyết định chính thức trong tháng 6 năm 2013.

Đối với lĩnh vực khai khoáng: Đã cho phép xuất khẩu một số loại khoáng sản có tồn kho cao và điều chỉnh thuế suất lên mức tối đa là 40%. Việc xuất khẩu được quản lý chặt chẽ trên cơ sở kiểm tra, xác định khối lượng tồn kho thực tế các loại tinh quặng sắt, ilmenit, apatit, sulfua chì, đồng, kẽm, mangan trên địa bàn cả nước.

Về mở rộng thị trường trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ hàng nhập khẩu, hạn chế nhập siêu:

Nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trong nước được triển khai gắn với đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa; tiếp tục củng cố, đổi mới hệ thống thu mua, phân phối hàng hóa và triển khai các mô hình liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ nông sản. Đã hỗ trợ lãi suất thu mua tạm trữ 1 triệu tấn quy gạo vụ Đông Xuân 2012 - 2013 và đang hỗ trợ thu mua tạm trữ 1 triệu tấn vụ Hè Thu 2013. Hỗ trợ tín dụng nuôi cá tra (đã giải ngân được khoảng 7 nghìn tỷ đồng). Chương trình bình ổn thị trường, giá cả được triển khai đồng bộ tại nhiều địa phương. Đang khẩn trương sửa đổi Nghị định số 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng, dầu.

Đẩy mạnh triển khai Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu, nhất là các mặt hàng chủ lực, có nhiều tiềm năng. Củng cố thị trường truyền thống và tìm kiếm các thị trường mới; tăng cường quản lý chất lượng hàng xuất khẩu, tháo gỡ các vướng mắc. Áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại phù hợp; chủ động trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu (hàng tiêu dùng xa xỉ, hàng trong nước sản xuất được). Trong 5 tháng đầu năm, xuất khẩu đạt gần 50 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ; nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ đầu tư, sản xuất kinh doanh đã tăng lên2. Nhập siêu 5 tháng là 1,9 tỷ USD, bằng 3,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu.

Về phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại:

Đã khẩn trương hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2013), khắc phục sơ hở trong quản lý và xử lý nghiêm hành vi vi phạm. Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, mặt hàng thường xảy ra buôn lậu, gian lận thương mại (xăng dầu, khí hóa lỏng, pháo, gia cầm nhập lậu, thực phẩm…), chống hàng giả, hàng kém chất lượng (phân bón, mũ bảo hiểm, đồ chơi trẻ em…), xử lý nghiêm các hành vi vi phạm3. Đã phê duyệt và triển khai Đề án phòng ngừa và ngăn chặn vận chuyển, kinh doanh gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép. Thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống gia cầm nhập lậu, kết hợp với thông tin, tuyên truyền về tác hại của việc sử dụng thực phẩm nhập trái phép, không qua kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm. Các lực lượng cảnh sát môi trường, quản lý thị trường, thú y, bộ đội biên phòng, hải quan đã triển khai có kết quả các biện pháp ngăn chặn, bắt giữ và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đến nay, cơ bản kiểm soát được việc nhập khẩu gia cầm trái phép; chăn nuôi gà trong nước đang phục hồi và phát triển.

Về rà soát quy hoạch tổng thể các dự án thủy điện:

Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rà soát quy hoạch và tiến độ đầu tư xây dựng các công trình thủy điện trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu an toàn (an toàn về hồ, đập, an toàn về tính mạng, tài sản của nhân dân), người dân tái định cư có cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ, không tác động xấu đến môi trường sống, bảo đảm hiệu quả tổng hợp của dự án thủy điện (kinh tế, xã hội, môi trường), thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc lập, thẩm định dự án, thi công xây dựng và vận hành công trình. Rà soát đánh giá, loại bỏ 338 dự án, giãn đầu tư sang sau năm 2015 là 117 dự án, tiếp tục rà soát, đánh giá, hiệu chỉnh quy hoạch 67 dự án. Theo Nghị quyết 40, Chính phủ sẽ báo cáo chi tiết vấn đề này tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII.

Về bảo đảm an toàn đập thủy điện:

Tính đến tháng 4 năm 2013, tổng số đập thủy điện đến kỳ phải kiểm định là 104 đập, trong đó 53 đập đã được kiểm định xong, 15 đập đang được kiểm định và 36 đập chưa kiểm định (chủ yếu là các đập thủy điện nhỏ). Đã thực hiện cắm mốc chỉ giới vùng phụ cận bảo vệ 47/232 đập. Riêng thủy điện Sông Tranh 2, từ đầu năm đến nay có 6 trận động đất, nhưng trên đập không có hiện tượng bất thường, lưu lượng thấm vẫn nhỏ hơn mức cho phép (12,5 l/s) và ổn định kể từ sau khi xử lý chống thấm. Đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo để sớm ban hành Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, an toàn đập thủy điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Về công tác trồng rừng thay thế và thực hiện chính sách dịch vụ môi trường rừng:

Đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, trồng rừng thay thế cho diện tích đã chuyển đổi mục đích sử dụng. Việc trồng bù rừng của các dự án thủy điện ở hầu hết các địa phương đã được quan tâm thực hiện nhưng còn gặp khó khăn do chưa bố trí được quỹ đất hoặc do một số chủ đầu tư chưa nghiêm túc chấp hành. Đã hướng dẫn việc trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển mục đích sử dụng đất có rừng. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được triển khai ở một số dự án thủy điện lớn như: Yaly (155,1 tỷ đồng), Pleikrông (19,93 tỷ), Sê san 3 (52,81 tỷ)...

Về công tác bồi thường di dân, tái định cư:

Nhìn chung, các khu tái định cư được xây dựng đều có kết cấu hạ tầng, nhà ở tốt hơn nơi ở cũ, môi trường sống được cải thiện, bộ mặt nông thôn trên địa bàn thay đổi đáng kể.

Công tác bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư cho các dự án thủy điện cơ bản tuân thủ đúng các quy định hiện hành. Tại các dự án thủy điện lớn, do thời gian xây dựng kéo dài trong khi các quy định liên quan đến bồi thường, hỗ trợ di dân, tái định cư có sự thay đổi nên đã phát sinh khiếu nại của người dân. Chính phủ đã giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu cơ chế đặc thù phù hợp với từng địa phương và có lợi hơn cho người dân.

2. Trong lĩnh vực xây dựng

Về giải quyết tình trạng đóng băng của thị trường bất động sản:

Đã chỉ đạo triển khai một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản4. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy định cho vay hỗ trợ nhà ở; nghiên cứu phương án sửa đổi chính sách theo hướng mở rộng đối tượng và điều kiện mua nhà ở đối với người Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; đang hoàn tất thủ tục để ban hành Nghị định về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.

Các địa phương đã và đang rà soát các dự án phát triển nhà ở5 để cho phép tiếp tục triển khai đối với các dự án có hiệu quả; điều chỉnh quy hoạch các dự án cho phù hợp với nhu cầu của xã hội. Đến nay đã có 58 dự án nhà được đề xuất điều chỉnh để xây dựng 33 nghìn căn hộ nhà xã hội. Nghiên cứu chính sách khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê, thành lập Quỹ tiết kiệm nhà ở, phát triển các Quỹ đầu tư bất động sản để tạo nguồn vốn phát triển nhà ở. Thực hiện thí điểm chuyển đổi dự án nhà ở để bán sang nhà ở cho thuê.

Về xử lý đất bỏ hoang:

Chính phủ đã ban hành Nghị định về quản lý đầu tư phát triển đô thị. Tập trung rà soát tổng thể tình hình thực hiện công tác quy hoạch trên phạm vi cả nước nhằm nâng cao hiệu quả của công tác lập, quản lý và thực hiện quy hoạch xây dựng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của cả nước, của từng vùng và từng địa phương6. Theo số liệu báo cáo của các địa phương đến hết quý I năm 2013, đã rà soát, phân loại 3.742 dự án khu đô thị mới, khu nhà ở với diện tích sử dụng đất là 90.612 ha. Đã tạm dừng triển khai 138 dự án (3,69% tổng số dự án) với diện tích 4.361 ha (4,81% tổng diện tích); tiếp tục triển khai 3.178 dự án (84,4%) với diện tích 82.897 ha (91,49%); đã hoàn thành 426 dự án (11,38%) với diện tích 3.354 ha (3,7%). Yêu cầu điều chỉnh quy hoạch và cơ cấu cho phù hợp đối với 432 dự án với diện tích khoảng 22.024 ha7. Chính phủ đã yêu cầu, chỉ đạo các địa phương có nhiều dự án bất động sản, nhất là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục rà soát, phân loại để có giải pháp xử lý phù hợp với nhu cầu của xã hội, khắc phục tình trạng đất bỏ hoang.

Về giải quyết nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở cho sinh viên:

Tích cực triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, trong đó tập trung phát triển thị trường nhà ở hướng vào mục tiêu đáp ứng nhu cầu cho 8 nhóm đối tượng cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, gồm: Người có công với cách mạng; người nghèo ở khu vực nông thôn; người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; cán bộ, công chức, viên chức, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân lao động tại các khu công nghiệp; sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và nhóm đối tượng xã hội đặc biệt khó khăn. Đang triển khai gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỷ đồng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp.

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định hỗ trợ nhà ở cho người có công với cách mạng, phấn đấu cơ bản hoàn thành việc hỗ trợ cho khoảng 71.000 hộ gia đình trong năm 2013. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho người nghèo tại khu vực nông thôn. Triển khai hỗ trợ nhà ở tránh lũ cho khoảng 60 nghìn hộ nghèo ở 14 tỉnh khu vực miền Trung.

Về tăng cường thanh tra, kiểm tra việc bảo đảm chất lượng các công trình xây dựng, xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, rút ruột công trình trong xây dựng công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thủy lợi:

Chính phủ đã ban hành Nghị định về quản lý chất lượng công trình xây dựng, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước (Xây dựng, Tài chính) trong kiểm soát về chất lượng và chi phí xây dựng ngay từ khâu “tiền kiểm” thông qua việc thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thẩm tra dự toán đối với công trình có sử dụng vốn ngân sách (những việc trước đây do chủ đầu tư thực hiện). Đã xây dựng, bổ sung, điều chỉnh các định mức kinh tế - kỹ thuật, các loại đơn giá đầu tư, đơn giá xây dựng cho phù hợp với các công nghệ, biện pháp và điều kiện thi công mới để làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư và thanh quyết toán công trình được kịp thời, công khai, minh bạch. Đã tổ chức xây dựng và công bố hơn 10.000 định mức xây dựng và nhiều định mức đặc thù. Rà soát, sửa đổi, bổ sung định mức chi phí quy hoạch xây dựng và định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình. Đã rà soát và công bố khoảng 300 định mức dự toán và tiếp tục rà soát các định mức còn lại. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quản lý về xây dựng, chi phí đầu tư và hợp đồng xây dựng; kiểm tra việc công bố chỉ số giá xây dựng của các địa phương.

Trong quý I năm 2013, đã tổ chức 14 đoàn thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình xây dựng, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ. Trong quá trình thanh tra đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc sai phạm, kịp thời khắc phục những thiếu sót trong quản lý dự án đầu tư xây dựng, thu hồi những khoản chi vượt định mức; giảm trừ giá trị thanh toán, quyết toán không phù hợp với khối lượng thi công thực tế; xử phạt hành chính, kiến nghị xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân vi phạm.

3. Trong lĩnh vực ngân hàng

Về điều hành chính sách tiền tệ thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát và tạo đà cho tăng trưởng kinh tế:

Trong chỉ đạo điều hành kinh tế vĩ mô, việc bảo đảm mối tương quan hợp lý giữa lạm phát và tăng trưởng có ý nghĩa rất quan trọng nhưng cũng là vấn đề khó, nhạy cảm và phức tạp, ảnh hưởng đến nền kinh tế cả trong ngắn, trung và dài hạn. Để bảo đảm nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn, Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội kiên trì, nhất quán thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô gắn với tái cơ cấu nền kinh tế theo lộ trình, không vì mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà gây bất ổn kinh tế vĩ mô, ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn. Việc chỉ đạo điều hành thực hiện không cứng nhắc, bảo đảm chủ động, linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.

Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, Chính phủ đã chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) điều hành chủ động, linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, giảm mặt bằng lãi suất, bảo đảm vốn tín dụng, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế. Theo dõi chặt chẽ thị trường tiền tệ, thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn, chủ động cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, bảo đảm thanh khoản, nhu cầu tín dụng đối với nền kinh tế. Thị trường ngoại hối và tỷ giá tương đối ổn định; dự trữ ngoại hối của Nhà nước tăng cao, đạt trên 12 tuần nhập khẩu; niềm tin vào đồng tiền Việt Nam được nâng lên. Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, đáp ứng kịp thời yêu cầu huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức tín dụng, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm.

So với cuối năm 2012, mặt bằng lãi suất đã giảm khoảng 3 - 4%/năm8. Dư nợ tín dụng đã tăng trở lại qua các tháng, tính đến ngày 31 tháng 5 năm 2013, dư nợ tín dụng tăng 2,98% so với cuối năm 2012, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 (5 tháng đầu năm 2012 tăng 0,56%). Tiếp tục tập trung tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao9. Triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân vay vốn ngân hàng một cách hiệu quả10.

Lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu, chỉ số giá tháng 5 năm 2013 tăng 2,35% so với tháng 12 năm 2012 và tăng 6,36% so với cùng kỳ năm trước.

Về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng:

Đã chỉ đạo thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến nay, cơ bản kiểm soát được tình hình của 09 ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém. Khả năng chi trả của các ngân hàng này được cải thiện đáng kể; quyền lợi của người gửi tiền được bảo đảm; nguy cơ mất an toàn giảm. Đã hoàn thành cơ bản việc cổ phần hóa lần đầu và thực hiện lộ trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam)11, tăng vốn điều lệ, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và đang triển khai cơ cấu lại một số ngân hàng liên doanh12. Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương được chuyển đổi thành Ngân hàng hợp tác xã13. Củng cố, chấn chỉnh hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở, nhất là các quỹ hoạt động kém hiệu quả, hạn chế thành lập mới; từng bước cải thiện và nâng cao năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát rủi ro.

Về xử lý nợ xấu:

Đã triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp xử lý nợ xấu như rà soát, đánh giá, phân loại lại nợ xấu theo loại hình doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, đối tượng vay vốn, tài sản bảo đảm; đánh giá thực trạng tài sản đảm bảo để có giải pháp xử lý phù hợp. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm việc trích lập dự phòng rủi ro14; ban hành quy định mới về phân loại tài sản có, về mức, phương pháp trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn. Ban hành và khẩn trương triển khai thực hiện Nghị định về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và đã phê duyệt Đề án xử lý nợ xấu nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế. Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến cuối tháng 4 năm 2013 tỷ lệ nợ xấu là 4,67%. Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm cuối năm 2012, tỷ lệ nợ xấu là 7,8%.

Về quản lý thị trường vàng:

Chính phủ đã chỉ đạo NHNN triển khai quyết liệt các biện pháp sắp xếp tổ chức lại thị trường vàng, hoàn thiện thể chế và vận hành cơ chế can thiệp bình ổn thị trường vàng15.

Từ ngày 25 tháng 11 năm 2012, các tổ chức tín dụng không được huy động vốn bằng vàng dưới mọi hình thức. Đến nay, số dư huy động, cho vay bằng vàng của các tổ chức tín dụng đã giảm đáng kể so với cuối năm 2012. Đến cuối tháng 5 năm 2013, số dư huy động vàng của các tổ chức tín dụng đã giảm khoảng 75%, số dư cho vay vàng đã giảm khoảng 40% so với cuối năm 2012.

Sau gần một năm thực hiện, khuôn khổ pháp lý mới về quản lý thị trường vàng nói chung và Nghị định 24 nói riêng đã phát huy hiệu quả rõ rệt, cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra. Sắp xếp lại, xác lập trật tự, kỷ cương trên thị trường vàng, ngăn chặn ảnh hưởng của biến động giá vàng đến tỷ giá, lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế; khắc phục tình trạng đầu cơ, nhập lậu vàng; tiến tới từng bước huy động được nguồn lực vàng trong dân phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội.

Hiện nay, mặc dù chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới còn cao nhưng thị trường vàng đã ổn định hơn. Về trung và dài hạn, trong điều kiện khuôn khổ pháp lý mới và với sự can thiệp của NHNN, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới sẽ được thu hẹp dần.

Về tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý tiêu cực trong hoạt động ngân hàng, thị trường tiền tệ, thị trường vàng:

Đã đổi mới, nâng cao năng lực và phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng, tập trung làm rõ những vấn đề nổi cộm, rủi ro, yếu kém. Tăng cường thanh tra và xử lý vi phạm của các tổ chức tín dụng, kết hợp thanh tra rủi ro với thanh tra chấp hành quy định của pháp luật; giám sát hoạt động của từng tổ chức tín dụng và toàn bộ hệ thống; mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng giám sát rủi ro, đánh giá chất lượng hoạt động theo hệ thống chỉ tiêu giám sát tài chính quốc tế (CAMELS)16. Yêu cầu các tổ chức tín dụng tự xây dựng và triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu, củng cố, chấn chỉnh theo quy định của Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

4. Trong lĩnh vực y tế

Về các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân:

Đã phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Đề án giảm quá tải bệnh viện giai đoạn 2013 - 2020, Đề án tiến tới lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, quyết định hỗ trợ 100% mệnh giá bảo hiểm y tế cho một số đối tượng cận nghèo, Đề án khuyến khích đào tạo và phát triển nhân lực y tế các chuyên ngành Lao, Phong, Tâm thần, Pháp y và Giải phẫu bệnh giai đoạn 2013 – 2020; ban hành quyết định về thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám chữa bệnh. Tập trung nguồn lực đầu tư xây mới, mở rộng bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh17 từ tuyến trung ương đến cơ sở.

Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định về đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở y tế công lập; xây dựng và thực hiện đề án bác sỹ gia đình, đề án bệnh viện vệ tinh, đề án thí điểm đưa bác sĩ trẻ về công tác tại miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nâng cao năng lực chuyên môn, đào tạo chuyển giao kỹ thuật các gói dịch vụ y tế cho tuyến dưới. Cải tiến quy trình khám bệnh, thủ tục nhập viện, chuyển viện, thanh toán viện phí, bảo hiểm y tế; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khám chữa bệnh; quan tâm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Thực hiện công khai giá dịch vụ y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh gắn với việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế, kịp thời giải đáp những thắc mắc của người dân liên quan đến giá dịch vụ y tế mới; bố trí buồng khám, quầy phát thuốc, nơi thu viện phí phù hợp, giảm tối đa thời gian chờ của người bệnh; chấn chỉnh công tác điều trị, hạn chế lạm dụng thuốc, xét nghiệm tại các bệnh viện.

Về nâng cao y đức:

Bộ Y tế đã chỉ đạo thực hiện quy tắc ứng xử, nâng cao đạo đức nghề nghiệp, hình thành bộ môn Y đức trong các trường đại học, cao đẳng y tế; triển khai xây dựng chuẩn năng lực hộ sinh, điều dưỡng, bác sỹ đa khoa; tăng cường bồi dưỡng, tập huấn để nâng cao kỹ năng giao tiếp, quy tắc ứng xử của cán bộ y tế; tích cực cải cách hành chính, thay đổi tác phong, lề lối làm việc; áp dụng công nghệ thông tin, thực hiện tiêu chuẩn ISO trong công tác khám, chữa bệnh; triển khai thực hiện nhóm giải pháp về chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ y tế; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại các cơ sở khám, chữa bệnh. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Đang khẩn trương xây dựng tiêu chí kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ y tế.

Về khắc phục những tồn tại trong quản lý khám, chữa bệnh tư nhân:

Đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh18, đặc biệt đối với các y, bác sỹ là người nước ngoài hành nghề tại Việt Nam; phát hiện, xử phạt nghiêm đối với các trường hợp vi phạm quy định. Tổ chức nhiều đoàn thanh tra, giám sát việc cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động tại các Sở Y tế. Đang xây dựng các quy định về việc sử dụng tiếng Việt trong các cơ sở khám, chữa bệnh có yếu tố người nước ngoài và về quảng cáo đối với dịch vụ khám chữa bệnh.

Về việc tăng cường quản lý thuốc, giá thuốc, giá dịch vụ y tế với lộ trình phù hợp với điều kiện và thu nhập của người dân:

Đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi một số bất cập về quản lý giá thuốc. Thực hiện việc cập nhật và công bố giá thuốc sản xuất trong nước và thuốc nhập khẩu. Triển khai thực hiện các quy định mới về đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế; định kỳ cập nhật và công bố kết quả giá thuốc trúng thầu. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm về quản lý thuốc, giá thuốc. Thí điểm quản lý giá thuốc bằng phương pháp mới đối với các loại thuốc do ngân sách nhà nước và bảo hiểm y tế chi trả. Giá dịch vụ y tế được xây dựng và ban hành trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật của từng dịch vụ có tính đến yêu cầu phù hợp với điều kiện và thu nhập của người dân cũng như khả năng chi trả của Quỹ bảo hiểm y tế. Thực hiện việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo lộ trình, phấn đấu từ năm 2018 giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính đủ các chi phí (trực tiếp và gián tiếp).

Về công tác quản lý, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm:

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý an toàn thực phẩm ở Trung ương và các tỉnh, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật an toàn thực phẩm19. Đã ban hành Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong 5 tháng đầu năm, đã xảy ra 50 vụ ngộ độc thực phẩm với 1238 người mắc, trong đó tử vong 15 người; so với cùng kỳ năm trước, giảm 13,8% số vụ, 32,4% số người mắc, số tử vong tăng 2 người (15,4%).

Về giảm dần tình trạng mất cân bằng giới tính trẻ sơ sinh:

Chính phủ đã chỉ đạo triển khai các hoạt động can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Nghiêm cấm chẩn đoán giới tính thai nhi trong các cơ sở y tế. Triển khai Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh trên toàn quốc, tập trung tại 43 tỉnh trọng điểm, đặc biệt là 10 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất, giao chỉ tiêu về khống chế tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh năm 2013 đối với các tỉnh, thành phố. Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông và thông qua mạng lưới cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thôn bản ở các địa phương. Tăng cường thanh tra, kiểm tra các cơ sở y tế, đặc biệt là các cơ sở siêu âm, các phòng khám sản phụ khoa - kế hoạch hóa gia đình. Đến nay, nhận thức về tác hại mất cân bằng giới tính khi sinh đã được nâng lên, tỷ số giới tính khi sinh ở một số địa phương đã giảm (Hưng Yên từ 130,7 năm 2009 xuống còn 119,6 năm 2012; Quảng Ngãi từ 115,1 năm 2009 xuống còn 111,6 năm 2012; Hải Phòng từ 115,3 năm 2009 xuống còn 112,0 năm 2012...).

Kính thưa Quốc hội,

Trên đây là báo cáo tổng hợp của Chính phủ về tình hình thực hiện Nghị quyết 40 của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XIII. Nghị quyết của Quốc hội giao cho các Bộ trưởng: Công Thương, Xây dựng, Y tế, Thống đốc NHNN 22 nhóm nhiệm vụ. Trong 6 tháng qua, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo. Các Bộ và địa phương đã tích cực tổ chức thực hiện. Nhiều việc đã đạt được kết quả tích cực như giãn, hoãn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp; mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu; kiểm soát cơ bản nhập khẩu gia cầm trái phép; rà soát tổng thể quy hoạch xây dựng; hoàn thiện quản lý chất lượng và chi phí các công trình xây dựng; giảm mặt bằng lãi suất; quản lý thị trường vàng; cơ cấu lại 9 ngân hàng thương mại yếu kém; quản lý giá thuốc; quản lý an toàn thực phẩm; khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh... Tuy nhiên, một số việc triển khai còn chậm, cần tiếp tục tập trung giải quyết trong thời gian tới như: Hỗ trợ các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; hỗ trợ di dân tái định cư; phòng chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng; tín dụng ưu đãi nhà ở xã hội; xử lý nợ xấu; quá tải bệnh viện.

Chính phủ trân trọng tiếp thu ý kiến của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước, đồng thời rất mong nhận được sự ủng hộ, phối hợp giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và đồng chí, đồng bào.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội, đồng chí, đồng bào.

---------------------------------------

1 Tại thời điểm 01 tháng 5 năm 2013 so với cùng kỳ năm 2012, một số mặt hàng tồn kho cao là sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự tăng 135%; sản xuất các thiết bị truyền thông tăng 90%; sản xuất dây, cáp điện và dây dẫn điện tử khác tăng 76,2%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 46,8%...

2 Xuất khẩu 5 tháng đầu năm đạt khoảng 49,9 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) tăng 25,8%. Xuất nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng dần, trong đó xuất khẩu tăng 2,1%, nhập khẩu tăng 7,6%. So với cùng kỳ, nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 3,5 lần; nhập khẩu điện thoại và linh kiện tăng gấp hơn 2 lần; dầu thô tăng 95,7%; nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tăng 53,6%; nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 38,6%; nhập khẩu bông các loại tăng 34,3%,…

3 Năm 2012, đã kiểm tra 177.205 trường hợp, xử lý 87.136 vụ vi phạm, trong đó có 15.045 vụ buôn bán hàng lậu, hàng cấm; 11.726 vụ hàng giả, kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ; 42.389 vụ kinh doanh trái phép và 17.924 vụ vi phạm trong lĩnh vực giá với số thu 395 tỷ đồng, trong đó phạt vi phạm hành chính 241 tỷ đồng; tiền bán hàng tịch thu 143 tỷ đồng và truy thu thuế 11 tỷ đồng, trị giá hàng tịch thu chờ bán khoảng 390 tỷ đồng, trị giá hàng tiêu hủy 55 tỷ đồng. Trong 5 tháng 2013, đã kiểm tra 73.217 trường hợp, xử lý 33.224 vụ vi phạm, trong đó có 5.874 vụ buôn bán hàng lậu, hàng cấm; xử lý 5.699 vụ hàng giả, kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ; xử lý 13.151 vụ kinh doanh trái phép và 6.618 vụ vi phạm trong lĩnh vực giá với tổng số thu 105,8 tỷ đồng, trong đó phạt vi phạm hành chính 65,6 tỷ đồng; tiền bán hàng tịch thu 38,1 tỷ đồng và truy thu thuế 2,14 tỷ đồng.

4 Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ

5 Bộ Xây dựng đã có văn bản gửi các địa phương và chủ đầu tư yêu cầu đẩy nhanh việc điều chỉnh cơ cấu căn hộ các dự án nhà ở thương mại, dự án khu đô thị và chuyển đổi nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ. Đến nay đã có 56 chủ đầu tư dự án đề xuất điều chỉnh quy mô căn hộ hoặc chuyển đổi dự án từ nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội quy mô trên 33.000 căn hộ (chủ yếu tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Tại Hà Nội có 27 dự án với 14.900 căn hộ, thành phố Hồ Chí Minh có 23 dự án với 14.500 căn hộ,… chưa kể các dự án nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp ở các tỉnh phát triển mạnh về công nghiệp.

6 Tính từ tháng 8 năm 2011 đến nay, Bộ Xây dựng thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 10 nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng liên tỉnh, 05 nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung các khu kinh tế, 09 nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chung các đô thị từ loại I trở lên và nhiều đồ án quy hoạch đô thị, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật quan trọng khác. Đến nay đã có 58/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng tỉnh; 765/765 thành phố, thị xã, thị trấn đã có quy hoạch chung được duyệt, đạt tỷ lệ 100% (năm 2011 là 93%); tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu/quy hoạch chi tiết 1/2000 đạt khoảng 60% (năm 2011 là 45%); quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 đạt khoảng 30% (năm 2011 là 25%).

7 Các dự án cần điều chỉnh trên đây nằm trong số các dự án đang tiếp tục triển khai và cả trong số các dự án tạm dừng (để điều chỉnh cơ cầu nhà ở và điều chỉnh quy hoạch).

8 Hiện lãi suất phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 8-10%/năm; lãi suất cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh ở mức 9 - 12%/năm; trong đó, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả đã được các ngân hàng thương mại cho vay với mức lãi suất chỉ từ 7 - 8%/năm.

9 Dư nợ tín dụng đến ngày 30 tháng 4 năm 2013 trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng 4%, sản xuất hàng xuất khẩu tăng 5,74% so với cuối năm 2012.

10 Riêng đối với việc tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện chính sách đối với chăn nuôi và thủy sản, tính đến ngày 31 tháng 3 năm 2013, theo báo cáo của 5 ngân hàng thương mại nhà nước đã thực hiện giãn nợ tối đa 24 tháng cho 8.037 khách hàng nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm, cá tra với số tiền là 1.287,5 tỷ đồng, hạ lãi suất đối với các khoản vốn đã vay, tiếp tục cho vay mới với lãi suất tối đa 11%/năm cho các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất chăn nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm, nuôi cá tra, chế biến cá tra xuất khẩu. Doanh số cho vay đạt 44.567,4 tỷ đồng và dư nợ đạt 35.276,8 tỷ đồng, tăng khoảng 26,5% so với trước thời điểm áp dụng chính sách theo quy định tại công văn số 1149/TTg-KTN ngày 14 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ.

11 NHNN đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án cơ cấu lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cùng với các công ty trực thuộc, bao gồm cả Công ty cho thuê tài chính II của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

12 Sáp nhập Ngân hàng liên doanh Shinhanvina vào Ngân hàng Shinhan Việt Nam; hiện nay, Ngân hàng liên doanh Việt Nga đã trình NHNN phương án cơ cấu lại để xem xét, chấp thuận. Một số ngân hàng liên doanh chưa đáp ứng mức vốn điều lệ theo quy định đã được NHNN báo cáo Thủ tướng Chính phủ và đề xuất phương án để xử lý cụ thể.

13 Đến nay, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc đã được Đại hội đồng thành viên thông qua và NHNN đang tiến hành thủ tục cấp Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng hợp tác xã.

14 Dự phòng rủi ro tín dụng liên tục tăng từ 59,4 nghìn tỷ đồng cuối tháng 01 năm 2012 lên mức cao nhất 78,6 nghìn tỷ đồng cuối tháng 11 năm 2012. Trong tháng 12 năm 2012, các tổ chức tín dụng đã sử dụng đáng kể dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nên dự phòng rủi ro tháng 12 năm 2012 giảm xuống còn 64,2 nghìn tỷ đồng. Trong 4 tháng đầu năm 2013, mức trích lập dự phòng rủi ro đã được bổ sung và đạt 73,6 nghìn tỷ đồng.

15 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 16/2013/QĐ-TTg ngày 04 tháng 3 năm 2013 về việc mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của NHNN; NHNN đã ban hành các Thông tư số 06/2013/TT-NHNN ngày 12 tháng 3 năm 2013 hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng, Thông tư số 01/2013/TT-NHNN.Tm ngày 12 tháng 3 năm 2013 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế Tổ chức thực hiện những nhiệm vụ về quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước, Quyết định số 563/QĐ-NHNN ngày 18 tháng 3 năm 2013 ban hành Quy trình mua, bán vàng miếng của NHNN, Thông tư số 05/2013/TT-NHNN ngày 08 tháng 3 năm 2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế phân loại, kiểm định, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý trong ngành Ngân hàng.

16 Trong 4 tháng đầu năm, đã tổ chức 301 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào tình trạng tài chính, nợ xấu, cho vay bất động sản, mức độ an toàn...

17 Trong 2 năm 2011, 2012 với nguồn đầu tư từ trái phiếu Chính phủ đã hoàn thành và đưa vào sử dụng trên 400 bệnh viện huyện, tỉnh, theo Đề án 47 và 930; tại tuyến Trung ương đưa vào sử dụng 1.350 giường bệnh mới thuộc 05 chuyên khoa đang quá tải trầm trọng: Ung bướu, tim mạch, nội tiết.

18 Đến nay theo thống kê của Bộ Y tế có 50 Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, y tế ngành đã cấp 32.827 chứng chỉ hành nghề, 2.559 giấy phép hoạt động, cả nước còn phải cấp 34.655 chứng chỉ hành nghề, 15.062 giấy phép hoạt động.

19 Đã ban hành 02 Nghị định của Chính phủ, 02 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về an toàn thực phẩm và 11 Thông tư của Bộ Y tế (trong đó có 5 Thông tư quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia).

Phản hồi

Các tin khác

Mới nhất

Xem nhiều nhất