Mối quan hệ đặc biệt, thuỷ chung, trong sáng Việt Nam - Lào hình thành và phát triển do các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước Việt - Lào dày công chăm lo, vun đắp, trong đó có Hoàng thân Xu-pha-nu-vông(1)- vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân các bộ tộc Lào, người đồng chí, người bạn thân thiết của nhân dân Việt Nam.
Hoàng thân Xu-pha-nu-vông sớm gắn bó với mảnh đất và con người Việt Nam. Thời gian sống và làm việc tại Việt Nam, Hoàng thân đã để lại cho đất nước Việt Nam nhiều công trình quan trọng, đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tiêu biểu là Đài nước ở Phan Thiết được xây dựng từ năm 1928 đến 1934 do Hoàng thân làm kiến trúc sư trưởng và công trình thủy lợi đập Bái Thượng miền núi Thanh Hóa và Đô Lương - Nghệ An hiện đang được khai thác phục vụ sản xuất.
Hoàng thân là một trong những người Lào đầu tiên tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau Cách mạng tháng 8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phái ông Lê Văn Hiến vào Vinh mời Hoàng thân ra Hà Nội để gặp gỡ, trao đổi về những vấn đề liên quan đến cách mạng hai nước Việt - Lào. Ngày 4-9-1945, Hoàng thân có cuộc gặp đầu tiên với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hoàng thân và đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Sau này, trong cuộc trả lời phỏng vấn nhà báo Ba Lan Vôi-xếch Xúc-chau-xki, Hoàng thân khẳng định: “Do có dịp được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, tôi đã học được ở Cụ nhiều vấn đề. Tôi đã tham gia cuộc khởi nghĩa tháng Tám chống bọn xâm lược Nhật. Tôi nhận thấy rằng nhân dân Hà Nội, với phong trào quần chúng rộng lớn, đã giành được thắng lợi. Mọi chuyện trở nên rõ ràng, dễ hiểu đối với tôi. Sau đó tôi trở về nước để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Lào”(2). Trong hồi ký của Xi-xa-na Xu-pha-nu-vông - người con trai út của Hoàng thân, nhấn mạnh: “Một trong những ngày hệ trọng nhất trong cuộc đời của Hoàng thân là lần đầu tiên ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nhớ nhất lần gặp đó và chính cuộc gặp đó, đã biến đổi ông từ một Thái tử của Hoàng gia Lào thành người chiến sĩ cách mạng”(3). Theo thời gian, nhận thức và tình cảm của Hoàng thân dành cho đất nước, con người và cách mạng Việt Nam càng sâu đậm, đó là động lực để sau này trên những cương vị khác nhau, Hoàng thân luôn có những việc làm, hành động thiết thực chăm lo, phát triển mối quan hệ Việt - Lào.
Xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự liên minh chiến đấu chống thù chung, ngày 30-10-1945, tại Thủ đô Viêng Chăn, hai Chính phủ Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định thành lập Liên quân Lào - Việt, Hoàng thân được giao trọng trách là Tổng chỉ huy các lực lượng liên quân. Từ đó trở đi, trên mỗi bước đường cách mạng, Hoàng thân luôn gắn bó với các chiến sĩ bộ đội Việt Nam, cùng họ sống và chiến đấu vì nền độc lập của hai dân tộc. Với lối sống khiêm nhường, giản dị, các chiến sĩ không phân biệt được đâu là một Hoàng thân, một vị Tổng chỉ huy mà chỉ thấy ở Hoàng thân toát lên vẻ bình dị, đôn hậu, luôn hết mình vì cách mạng. Theo lẽ tự nhiên, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ với Hoàng thân ngày càng bền chặt.
Đáp lại chân tình của Hoàng thân, các cán bộ, chiến sĩ Việt Nam luôn phấn đấu hết mình, chịu đựng mọi hy sinh gian khổ, cùng nhân dân và bộ đội Lào chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ cuộc sống, sự bình yên cho nhân dân Lào. Vào đầu năm 1946, trong cuộc chiến đấu bảo vệ thành phố Thà Khẹc, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, Liên quân Lào - Việt đã anh dũng chiến đấu. Nhưng trước sức mạnh vượt trội của địch, Hoàng thân cùng lực lượng liên quân phải rời sang đất Thái Lan bảo toàn lực lượng. Để bảo vệ sự an toàn cho Hoàng thân, đồng chí Lê Thiệu Huy, Tham mưu trưởng liên quân đã lấy thân mình che đạn cho Hoàng thân và hy sinh. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã để lại cho nhân dân các bộ tộc Lào nói chung và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông nhiều tình cảm sâu đậm.
Trong thư gửi cụ Lê Thước, một nhà Hán học nổi tiếng của Việt Nam, cha của đồng chí Lê Thiệu Huy, Hoàng thân viết: “Thưa Ngài, anh Lê Thiệu Huy người con yêu quý nhất của Ngài mất đi, không những riêng trong gia quyến mất một người con yêu dấu mà nước Việt Nam và nhân dân Lào mất một chiến sĩ đầy tinh thần hy sinh vì công lý. Riêng tôi, cái chết của anh Lê Thiệu Huy không khỏi làm cho tôi bùi ngùi thương tiếc. Anh Lê Thiệu Huy đã sát cánh cùng tôi chiến đấu để giải phóng cho nước Lào, cho dân tộc Lào. Tinh thần hy sinh cao cả đã nhắc nhở cho thanh niên Lào, cho nhân dân Lào, luôn luôn bền bỉ chiến đấu để giết đế quốc xâm lăng và giành độc lập thực sự cho đất nước”(4).
Khắc ghi những hy sinh to lớn của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam chiến đấu trên đất Lào, Hoàng thân luôn dành cho cán bộ, chiến sĩ Việt Nam sự quan tâm đặc biệt. Hoàng thân thường xuyên đi thăm, động viên các đơn vị trước và sau các đợt chiến đấu hay mỗi khi có điều kiện. Vào những dịp lễ tết, Hoàng thân luôn gửi thiệp chúc mừng tới các chiến sĩ tình nguyện Việt Nam. Nhân dịp đầu năm mới 1953, trong thư gửi ban chỉ huy bộ đội tình nguyện Việt Nam ở các khu, các tỉnh của Lào, Hoàng thân viết: “Nhân dịp đầu năm mới, tôi thay mặt Chính phủ, Mặt trận Neo Lào và nhân danh cá nhân thân ái chúc toàn thể anh chị em cán bộ và chiến sĩ tình nguyện sức khỏe và chiến thắng... Nói đến thắng lợi của nhân dân Lào, tôi không quên công ơn của anh chị em đã đóng góp. Tôi đặc biệt hoan nghênh tinh thần yêu nước nồng nàn, đúng đắn, kết hợp với tinh thần quốc tế chân chính của anh chị em... Năm mới đến, khó khăn gian khổ sẽ tăng lên nhưng thắng lợi nhất định sẽ vẻ vang hơn. Tôi mong các anh chị em càng cố gắng nêu cao truyền thống của Quân đội quốc gia Việt Nam, xứng đáng với lòng tin cậy của chính quyền và nhân dân hai nước Việt - Lào”(5). Cùng với những động viên về vật chất, những lời khích lệ về tinh thần của Hoàng thân luôn là nguồn cổ vũ lớn lao, giúp cán bộ, chiến sĩ tình nguyện Việt Nam tiếp tục phấn đấu vượt qua khó khăn gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời hoạt động cách mạng, Hoàng thân vẫn luôn nhận được sự giúp đỡ của nhân dân và bộ đội Việt Nam. Vào tháng 7-1959, khi Hoàng thân cùng một số lãnh tụ cách mạng Lào bị đế quốc Mỹ và tay sai giam giữ tại nhà tù Phôn Khênh (Viêng Chăn), Hoàng thân đã được một tổ công tác đặc biệt của Việt Nam giải thoát (24-5-1960), tiếp tục trở về khu căn cứ để lãnh đạo cách mạng. Bởi vậy, hình ảnh chiến sĩ tình nguyện Việt Nam luôn là một phần không thể thiếu trong cuộc đời của Hoàng thân. Hiện nay, trong gia đình của Hoàng thân và trong khu lưu niệm Hoàng thân tại thủ đô Viêng Chăn còn lưu giữ nhiều bức ảnh Hoàng thân chụp chung với bộ đội tình nguyện Việt Nam. Những bức ảnh đó luôn được Hoàng thân nâng niu cất giữ. Năm 1994, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Hoàng thân vẫn tìm bức ảnh Hoàng thân chụp với bộ đội tình nguyện và đọc lời đề tặng: “Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, bất khuất, tôi xin gửi lời chúc mừng thắm thiết và tình hữu nghị sâu đậm nhất đến với các bạn, các đồng chí anh em Việt Nam thân yêu”(6).
Dù bận nhiều công việc trong lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, Hoàng thân vẫn luôn dành thời gian sang thăm đất nước và nhân dân Việt Nam. Ngày 25-5-1971, nhận lời mời của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Hoàng thân sang thăm Việt Nam. Trở lại mảnh đất có nhiều gắn bó với cuộc đời và sự nghiệp của mình, đi đến đâu Hoàng thân cũng được nhân dân Việt Nam nồng nhiệt tiếp đón, trong bầu không khí thắm đượm tình đoàn kết và hữu nghị thủy chung, Hoàng thân phát biểu: Quan hệ hữu nghị anh em giữa nhân dân Lào và Việt Nam thật là vĩ đại, không thể có bài hát, bài thơ nào ca ngợi hết được. Tình đoàn kết Lào - Việt Nam cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm, ngát thơm hơn bất cứ đóa hoa nào thơm nhất. Tình hữu nghị tốt đẹp đó được vun đắp bằng tinh thần trong sáng, không có kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi. Chính với sức mạnh đoàn kết đó, cách mạng hai nước Việt - Lào đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và giành thắng lợi trọn vẹn vào năm 1975.
Với những cống hiến to lớn cho cách mạng Lào, tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Nhân dân Cách mạng Lào diễn ra từ ngày 1 đến 2-12-1975, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông được bầu làm Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tối cao nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Dưới sự lãnh đạo của Hoàng thân, nước Lào không ngừng lớn mạnh, mối quan hệ Việt - Lào luôn được củng cố và phát triển. Ngày 18-7-1977, tại Thủ đô Viêng Chăn, hai nước Lào và Việt Nam đã ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác toàn diện. Tiếp đó, hàng loạt những văn kiện hợp tác giữa hai nước được triển khai thực hiện hiệu quả, đưa kinh tế hai nước không ngừng phát triển, Việt Nam và Lào ngày càng có vị trí cao trong khu vực và trên trường quốc tế.
Năm 1995, Hoàng thân qua đời để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân hai nước Lào - Việt. Dù Hoàng thân không còn nữa, nhưng tình cảm đặc biệt và công lao to lớn mà suốt đời Hoàng thân dành cho đất nước, con người Việt Nam, cho mối quan hệ Việt - Lào vẫn còn mãi mãi, nó được lưu dấu trong biết bao kỷ vật, những trang hồi ký và chiều sâu ký ức của người Việt Nam.
Tại xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang có làng Ngòi và hang Đá Bàn, là nhà ở và nơi làm việc của Hoàng thân những năm 1950- 1951, đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia... Hiện nay, Việt Nam đang giúp Lào dựng tượng đài Hoàng thân ở nhiều nơi. Năm 2008, khánh thành tượng đài tại trường Đại học Quốc gia Xu-pha-nu-vông ở Luông Pha Băng; tượng đài tại thành phố Thà Khẹc sẽ khánh thành vào tháng 7-2009, đúng dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Hoàng thân. Đây là việc làm thiết thực, sự tri ân của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với công lao to lớn của Hoàng thân giành cho cách mạng Việt Nam và mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào.
Từ một người xuất thân trong Hoàng gia, Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đã đi theo cách mạng và gắn bó với mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào. Trong suốt những năm tháng kháng chiến cũng như trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngoài việc cùng nhân dân các bộ tộc Lào đấu tranh vì độc lập, tự do và xây dựng CNXH, Hoàng thân luôn chăm lo, vun đắp cho mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào. Những cống hiến của Hoàng thân cho mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào là tài sản vô giá, sẽ mãi mãi được nhân dân hai nước nâng niu, gìn giữ, coi đó là một biểu tượng sinh động của tình đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng.
____
(1) Hoàng thân Xu-pha-nu-vông sinh ngày 13-7-1909 tại Kinh đô Luông Pha Băng, trong một gia đình Hoàng tộc, cha là Phó vương Bun Khoóng. Năm 1920, sang Hà Nội học tại Trường trung học Anbe Xarô. Năm 1937 công tác tại Sở Công chính Nha Trang. (2) Ông Hoàng Đỏ kiên cường, Nxb Sự Thật, H.1992, tr.82. (3) Bảo tàng Hồ Chí Minh, Biên niên sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh với tình hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, NXBCTQG, H.2007, tr.52. (4) Thư của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông gửi cụ Lê Thước đề ngày 7-11-1951. Phòng Tư liệu Viện nghiên cứu Đông Nam Á. (5) Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 12-2004, tr.55. (6) Sự kiện và Nhân chứng, tháng 12-1994.
Lê Văn PhongViện Lịch sử quân sự Việt Nam