Diễn đàn
Khắc phục việc xét miễn công tác và sinh hoạt đảng một cách tràn lan khi thực hiện hướng dẫn mới
10:10' 15/7/2009


Ngày 26-3-2009, Ban Tổ chức Trung ương ban hành Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW về việc miễn công tác và sinh hoạt đảng đối với đảng viên (sau đây gọi tắt là hướng dẫn mới) thay thế điểm a, b, mục 9,3 trong Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW ngày 29-12-2006 và mục 1, phần III trong Hướng dẫn số 08-HD/BTCTW ngày 21-6-2007, Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể về nghiệp vụ công tác đảng viên. Để thực hiện miễn công tác và sinh hoạt đảng đúng mục đích, yêu cầu và đúng đối tượng, cần khắc phục hiện tượng xét miễn một cách tràn lan, thiếu thống nhất (tuy mức độ có khác nhau), như đã xảy ra ở không ít chi bộ hiện nay.

1. Nâng cao ý thức của đảng viên và trách nhiệm của chi bộ.

Từng cấp uỷ, chi bộ khi triển khai quán triệt và thực hiện hướng dẫn mới cần dành thời gian đánh giá, tổng kết việc thực hiện những điểm có liên quan về việc miễn công tác và sinh hoạt đảng trong các hướng dẫn số 03, 08 (gọi chung là hướng dẫn cũ) của Ban Tổ chức Trung ương. Từ đó rút bài học kinh nghiệm cho việc thực hiện hướng dẫn mới hiện nay. Đây là việc làm cần thiết bởi lẽ:

Thực hiện hướng dẫn cũ, bên cạnh những mặt tích cực cũng bộc lộ một số biểu hiện không đúng như chủ quan, xuê xoa, nể nang dẫn đến xét miễn công tác và sinh hoạt đảng một cách tràn lan, thiếu thống nhất. Việc này đã tác động không tốt đến nhận thức của đảng viên và quần chúng về chủ trương miễn công tác và sinh hoạt đảng. Cũng như ảnh hưởng đến uy tín, vai trò lãnh đạo của chi bộ và đội ngũ đảng viên.

Có thể nêu một ví dụ cụ thể qua bài viết đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử ngày 15-4-2008 của tác giả Nguyễn Bá Trừ phản ánh khá rõ hiện tượng này. Đó là: Chi bộ 1B thuộc Đảng bộ phường Ngọc Hà có 36 đảng viên thì chỉ có 19 đảng viên thuộc diện kiểm điểm, xếp loại, 17 đảng viên được miễn sinh hoạt không phải kiểm điểm, xếp loại (chiếm gần 50%). Trong đó, có tổ chức đảng 10 đảng viên chỉ còn 3 đảng viên tiến hành kiểm điểm xếp loại, 7 đảng viên được miễn (chiếm 70%). Cuộc họp tổng kết công tác cuối năm của chi bộ 1B, mặc dù tất cả đảng viên miễn sinh hoạt được mời nhưng chỉ có 3/17 đảng viên được miễn sinh hoạt đến họp. Trong số đảng viên được miễn sinh hoạt, có đồng chí cả năm không một lần họp chi bộ nhưng quanh năm đi lễ chùa trong nước và du lịch nước ngoài. Khi hỏi một đảng viên được mời mà không đi họp, đồng chí đó trả lời: “Được miễn rồi đi họp làm gì, nằm nhà cho khoẻ!”. Một số đồng chí còn không tham gia học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và do không tham gia sinh hoạt đoàn thể, tổ dân phố nên cũng không làm công tác vận động quần chúng thực hiện chính sách của Đảng và hưởng ứng các cuộc vận động thi đua của Mặt trận Tổ quốc, của cấp trên. Tóm lại, không ít đảng viên sau khi được miễn công tác và sinh hoạt rất ít liên lạc với tổ chức đảng, các đồng chí đó hoàn toàn tự do, không được quản lý, giám sát, đi đâu, làm gì tổ chức đảng không biết. Như vậy, các đồng chí đó đã không thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng quy định tại điểm 10(10.2) Quy định số 23-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Thậm chí có biểu hiện miễn thì dễ nhưng khi hoàn cảnh, điều kiện đã được khắc phục như khỏi bệnh, sức khoẻ tốt lên mà nhiều đồng chí cũng không trở lại công tác và sinh hoạt, gây dư luận không tốt. Những biểu hiện đó đều không đúng với bản chất của Đảng, bản chất của người đảng viên mà biện pháp trước tiên là phải đề cao ý thức, trách nhiệm của đảng viên, của mỗi chi bộ. Bởi chi bộ hiểu rõ hoàn cảnh chính xác của từng đảng viên, đồng thời cũng là nơi quyết định bằng nghị quyết miễn công tác và sinh hoạt đảng cho đảng viên.

2. Cần xác định cụ thể hơn điều kiện đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng.

Theo hướng dẫn mới, có 4 đối tượng đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng, đó là: Đảng viên tuổi cao, sức khoẻ yếu; điều kiện làm việc xa, lưu động, công việc không ổn định; đi thăm người thân trong và ngoài nước dài ngày và đảng viên đang nghỉ chờ hưu. Trong thực tế 2 đối tượng đang có những quan niệm, ý kiến khác nhau là đảng viên tuổi cao và đảng viên sức khoẻ yếu.

Theo hướng dẫn mới, đảng viên tuổi cao là đảng viên hết tuổi lao động theo quy định của Bộ luật Lao động: Nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi.

Tôi cho rằng, không nên lấy quy định hết tuổi lao động của Bộ luật Lao động để quy định điều kiện về tuổi miễn công tác và sinh hoạt đảng đối với đảng viên. Bởi lẽ, Điều 1, Điều lệ Đảng khoá X quy định: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng…”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Xưa nay những người yêu nước không vì tuổi già mà chịu ngồi không”(1), “càng già càng dẻo lại càng dai, tinh thần gương mẫu chẳng nhường ai”(2). Theo tôi, cần cụ thể hoá hơn điều kiện đối với tuổi cao để được xét miễn công tác và sinh hoạt đảng đối với đảng viên nam là 70, nữ 65. Điều này cũng phù hợp với xác định tuổi người già của thế giới. Đến tuổi trên, nếu có nguyện vọng và tự nguyện được chi bộ xét và ra nghị quyết miễn công tác, sinh hoạt đảng cho đảng viên. Quy định như hướng dẫn mới, tuổi miễn công tác và sinh hoạt đảng bằng với tuổi nghỉ hưu theo Bộ luật Lao động là không hợp lý. Vì thực tế, ở các chi bộ thuộc các đảng bộ xã, phường, đảng viên ở độ tuổi này (tri thiên mệnh) đang chiếm tỷ lệ khá đông, có nơi tới 70-80%. Tuy là đảng viên đã nghỉ hưu, nhưng phần lớn số đảng viên này còn sức khoẻ, có phẩm chất chính trị vững vàng, có năng lực, trình độ, đã và đang là chỗ dựa chính trị tin cậy của Đảng ở cơ sở, góp phần xứng đáng vào thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Mặt khác, Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối, bằng giáo dục, vận động, thuyết phục và nêu gương; đảng viên ở độ tuổi này là những đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động và vận động quần chúng, vẫn phát huy tốt vai trò lãnh đạo của người đảng viên, miễn là tổ chức đảng có sự phân công hợp lý để mọi người phát huy được khả năng, sở trường của mình.

Về kiều kiện sức khoẻ yếu theo hướng dẫn mới quy định: do chi bộ xem xét dựa vào tình trạng sức khoẻ thực tế của đảng viên (mắc bệnh cần chữa trị dài ngày (từ 3 tháng trở lên), hoặc căn cứ bệnh án của cơ sở y tế).

Theo tôi, điều kiện này cũng cần lượng hoá cụ thể hơn nữa để chi bộ dễ xem xét như: Đảng viên được coi là sức khoẻ yếu phải biểu hiện đến mức: sinh hoạt, đi lại khó khăn, đang bị bệnh tật, phải điều trị ở bệnh viện, cơ sở y tế tư nhân hoặc chữa trị tại nhà riêng dài ngày. Nghĩa là thực sự không còn đủ sức khoẻ để tham gia sinh hoạt và công tác đảng.

3. Nên thành lập “chi bộ hưu” ở đảng bộ xã, phường.

Đây là hai khu vực mà hầu như dảng viên là cán bộ, công chức khi nghỉ hưu đều chuyển sinh hoạt đảng về các đảng bộ này. Trong sinh hoạt đảng, với kinh nghiệm hoạt động và trách nhiệm đảng viên, các đồng chí hưu thường nhiệt tình đóng góp ý kiến xây dựng nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, mong muốn qua đó tiếp tục góp phần giữ vững vai trò hạt nhân chính trị của đảng bộ, lãnh đạo thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng xã, phường giàu đẹp, văn minh, hệ thống chính trị vững mạnh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Song do hạn chế về tuổi tác, sức khoẻ nên khi triển khai nghị quyết ít trực tiếp tham gia thực hiện nên thường được mệnh danh là “nói nhiều, làm ít”. Ngược lại, những đảng viên trẻ lực lượng trực tiếp làm thì lại ít nói, ít phát biểu đóng góp chính kiến của mình. Rốt cuộc cả hai lực lượng đều không phát huy tốt vai trò của đảng viên, ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ. Vì vậy, nếu tách thành chi bộ hưu riêng đi đôi với vận dụng thích hợp chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 24, Điều lệ Đảng, thì việc xét miễn công tác và sinh hoạt đảng sẽ đơn giản và có hiệu quả hơn, công tác lãnh đạo và quản lý đảng viên là cán bộ hưu sẽ tốt hơn.

Tóm lại, việc miễn công tác và sinh hoạt đảng cho đảng viên tuổi cao, sức khoẻ yếu là việc làm bình thường như một lẽ tự nhiên. Song đây không chỉ thuần tuý là công việc nội bộ đảng, nó liên quan đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngay từ các cơ sở đảng, ảnh hưởng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và nhân dân. Vì vậy cần phải được tiến hành một cách thận trọng vừa đảm bảo nguyên tắc và tính đảng, vừa đạt lý, thấu tình.

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, tr.24. (2) Sđd, tập 10, tr.213.

Ths. Phạm Văn Hiểu Trường Chính trị tỉnh Hải Dương
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 4 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS