Những năm qua, thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước ta, các cấp ủy đảng, chính quyền tỉnh Phú Thọ đã sớm thống nhất được nhận thức và hành động để phát huy vai trò của đảng viên làm kinh tế tư nhân, đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên ở các doanh nghiệp tư nhân. Tỉnh ủy và UBND đã có những văn bản chỉ đạo và tích cực triển khai thực hiện công tác này. Kết luận số 195-KL/TU ngày 1-12-2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Quyết định số 3239/2004/QĐUB ngày 22-10-2004 của UBND tỉnh về phối hợp và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc quản lý hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh; Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28-8-2006 của Ban Chấp hành Trung ương đã tạo thêm niềm tin, sức mạnh cho nhiều đảng viên yên tâm đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
1. Phần lớn đảng viên làm kinh tế tư nhân trước đây đều đã công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, quân đội về nghỉ hưu, nghỉ mất sức, thôi việc, xuất ngũ. Đa số đảng viên lập doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ở những lĩnh vực mà trước đây họ đã từng làm hoặc được đào tạo. Nhưng có một số đảng viên rất thành đạt khi làm kinh tế tư nhân ở những lĩnh vực không liên quan đến nghề nghiệp cũ, tất nhiên họ phải cố gắng rất nhiều và gặp không ít khó khăn.
Tính đến cuối tháng 5-2006, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 1.146 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, trong đó có 93 doanh nghiệp do đảng viên làm giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị (18,1%). Trong số 93 doanh nghiệp này có 36 công ty trách nhiệm hữu hạn, 30 công ty cổ phần và 27 doanh nghiệp tư nhân; 31 doanh nghiệp đã thành lập tổ chức đảng.
2. Về cơ bản, các doanh nghiệp do đảng viên làm chủ hoạt động hiệu quả. Một số doanh nghiệp đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường, doanh thu hằng năm tăng, thực hiện tốt nghĩa vụ với Nhà nước và người lao động: Nộp thuế, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, có chính sách thu hút, quan tâm tới lợi ích của người lao động; tạo điều kiện thành lập và hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thanh niên, công đoàn; giải quyết công ăn việc làm, hỗ trợ địa phương kinh phí, phương tiện để giải quyết các vấn đề xã hội.
Doanh nghiệp do đảng viên làm chủ đã góp phần khôi phục một số nghề truyền thống, khai thác tiềm năng các vùng nguyên liệu… Tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ, có khả năng tiếp cận thị trường nhanh nhạy và liên kết với nhau trong việc cung cấp vật liệu, phân phối sản phẩm. Các doanh nghiệp đã giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động không chỉ trong tỉnh mà còn ở nhiều địa phương khác. Công ty Xây lắp dịch vụ tổng hợp Hải Hà hoạt động ở cả các tỉnh miền Nam và ở nước ngoài (Lào, Căm-pu-chia), đã tạo việc làm cho nhiều lao động.
Ngoài việc đóng góp vào ngân sách nhà nước, nhiều đảng viên làm kinh tế tư nhân đã quan tâm và ủng hộ tích cực đối với các hoạt động văn hóa, phúc lợi xã hội; tham gia các hoạt động nhân đạo, từ thiện, giúp đỡ gia đình khó khăn, xóa đói, giảm nghèo ở địa phương.
3. Hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp do đảng viên làm chủ đã bám sát chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng theo quy định của Ban Bí thư, xác định rõ mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với hội đồng quản trị, ban giám đốc; tập trung lãnh đạo và thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, mục tiêu sản xuất, kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn doanh nghiệp. Các chi bộ đã chấp hành tốt các quy định của Đảng, đảng viên tham gia sinh hoạt và đóng đảng phí đầy đủ, thực hiện tốt nhiệm vụ theo quy định. Một số chi bộ đã quan tâm và làm tốt công tác phát triển đảng viên. Có chi bộ hằng năm kết nạp từ một đến hai quần chúng ưu tú vào Đảng (Công ty cổ phần Lâm sản Thanh Sơn, Công ty cổ phần Thương mại và sản xuất hàng xuất nhập khẩu Phong Châu…).
Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân là đảng viên nhận thức rõ vai trò của tổ chức đảng trong doanh nghiệp. Cấp ủy và chi bộ đã có vai trò tích cực cho công việc quản lý, điều hành của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã xây dựng và thực hiện có hiệu quả các quy chế làm việc giữa bí thư, cấp ủy, hội đồng quản trị, ban giám đốc và quy chế phối hợp hoạt động với các đoàn thể quần chúng.
4. Một số khó khăn, hạn chế. Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (khoảng 30 đến 200 lao động), công nghệ, thiết bị thường ít hiện đại, khả năng cạnh tranh của sản phẩm thấp, chủ yếu đáp ứng nhu cầu tại chỗ; chất lượng hàng hóa chưa cao, khả năng tài chính không nhiều. Người tham gia góp vốn chủ yếu là những thành viên trong gia đình, những người thân trực hệ, bạn bè thân thiết. Số người làm phần lớn là lao động phổ thông, hợp đồng lao động thường ngắn hạn hoặc theo mùa vụ; trình độ tay nghề hạn chế. Lương của người lao động còn thấp (trung bình khoảng 650.000 đồng/người/tháng) và có lúc không ổn định. Quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh phần lớn dựa vào kinh nghiệm hoặc tự học.
Nhiều doanh nghiệp đảng viên làm chủ chưa thành lập được tổ chức đảng (mới có 31/93 doanh nghiệp có chi bộ) nên phần lớn đảng viên trong doanh nghiệp phải sinh hoạt tại nơi cư trú. Do đó thiếu sự lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cấp ủy cấp trên về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; việc nắm bắt thông tin, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với đảng viên còn chậm và không đầy đủ.
Hoạt động của tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên ở một số doanh nghiệp còn theo mô hình của các doanh nghiệp nhà nước nên chưa phù hợp, ít hiệu quả.
5. Những vấn đề đang đặt ra:
Thứ nhất, số doanh nghiệp do đảng viên làm chủ hiện chiếm tỷ lệ nhỏ (8,1%) so với tổng số các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; có tới 1.115 doanh nghiệp (97,3%) không có tổ chức đảng. Nếu không thành lập được tổ chức đảng thì rất khó phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các doanh nghiệp này.
Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh. Nhiều chủ doanh nghiệp có phẩm chất và năng lực tốt, cống hiến nhiều cho xã hội, rất xứng đáng được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Khi chủ doanh nghiệp là đảng viên thì khả năng phát triển tổ chức đảng và đoàn thể tốt hơn; Đảng có cơ hội nắm con người và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tìm hiểu sâu các hoạt động tổ chức đảng với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chúng tôi thấy có hai chiều hướng: Nếu chỉ có đảng viên ở các đơn vị sản xuất mà không có đảng viên trong hội đồng quản trị, trong ban giám đốc thì hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng thấp; nếu đảng viên là chủ doanh nghiệp thì tổ chức đảng sẽ hoạt động hiệu quả hơn.
Do vậy, phải coi trọng kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng, từ đó tạo điều kiện cho xây dựng và phát triển tổ chức đảng trong loại hình doanh nghiệp này.
Thứ ba, để phối hợp hành động giữa tổ chức đảng và doanh nghiệp (giám đốc, hội đồng quản trị…) phải xác định rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm, nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức đảng trong doanh nghiệp tư nhân; cơ chế phối hợp giữa tổ chức đảng với doanh nghiệp.
Thứ tư, hiện đang có sự cào bằng trong đánh giá đảng viên làm kinh tế giỏi với đảng viên bình thường, thậm chí làm kinh tế kém. Điều đó không những không khuyến khích được đảng viên làm kinh tế giỏi mà còn làm giảm uy tín của Đảng, vì có những đảng viên không biết tự lo cho cuộc sống của mình, khó có thể lãnh đạo người khác.
Sớm có quy định cụ thể về việc kết nạp chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh vào Đảng (tiêu chuẩn, cách thức tiến hành, quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có liên quan). Bên cạnh các quy định chung, cần khảo sát kỹ động cơ vào Đảng của chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Xem xét kết nạp lại những người vốn là đảng viên, nhưng vì trách nhiệm với Đảng (lúc chưa có chủ trương cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân) đã tự nguyện ra khỏi Đảng để được làm kinh tế tư nhân theo đúng quy định của pháp luật.
Có văn bản hướng dẫn các cấp, các ngành quản lý các tổ chức đảng ở doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay đang có ba loại ý kiến: Một là tổ chức đảng ở doanh nghiệp tư nhân mong muốn trực thuộc đảng ủy huyện, thị xã, thành phố; hai là trực thuộc đảng ủy cơ sở địa bàn doanh nghiệp đóng; ba là muốn trực thuộc đảng ủy một liên chi, đảng bộ khối doanh nghiệp, thuộc tỉnh, thành ủy. Dù trực thuộc đâu, các tổ chức đảng đều muốn có được thông tin đầy đủ, kịp thời để lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.
Khi đánh giá chất lượng đảng viên (ở độ tuổi lao động, không phải là cán bộ, công chức, viên chức) cần đưa thêm tiêu chí biết làm kinh tế để xóa đói, giảm nghèo.
Từ thực tiễn đảng viên làm kinh tế tư nhân ở Phú Thọ và trước sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp tư nhân mà theo dự báo tới năm 2010, cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp, Đảng ta cần đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề tổ chức, phát huy vai trò của đảng viên và tổ chức đảng trong các loại hình doanh nghiệp này.
PHẠM VĂN THUẦN
Viện Khoa học Tổ chức, Ban Tổ chức Trung ương