Diễn đàn
Đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh uỷ đối với cơ quan nhà nước
17:21' 3/7/2006


Khảo sát hệ thống hành chính nước ta trong lịch sử, cấp tỉnh bao giờ cũng giữ vị trí quan trọng. Theo các tư liệu sử học, cấp tỉnh đã có bề dày lịch sử hình thành tương đương như lịch sử hình thành cấp xã. Bắt đầu từ thế kỷ X, bước vào thời kỳ khôi phục, xây dựng quốc gia độc lập tự chủ, cấp tỉnh là đơn vị hành chính thứ hai sau Trung ương với nhiều tên khác nhau. Thời Đinh - tiền Lê gọi là đạo; thời kỳ Lý - Trần gọi là lộ (hoặc phủ); thời Lê gọi là trấn thừa tiên; từ thời Nguyễn gọi là tỉnh (chính thức được dùng tên gọi này vào thời Minh Mạng). Với vai trò là hạt nhân của hệ thống chính trị ở địa phương, đảng bộ tỉnh mà cơ quan lãnh đạo là tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy có thẩm quyền lớn. Thẩm quyền này được thực thi như thế nào trong điều kiện nước ta hiện nay là một vấn đề cần nghiên cứu để phát huy hiệu lực, tăng hiệu quả, khắc phục những hạn chế; nhất là tránh hiện tượng bao biện, chồng chéo.

Qua các thời kỳ, cơ quan lãnh đạo Trung ương đều đặc biệt quan tâm đến cấp tỉnh thông qua việc xác lập địa giới hành chính, lựa chọn người đứng đầu và trao những quyền nhất định cho cơ quan hành chính.

Dưới quan điểm xây dựng nhà nước thống nhất, Đảng ta chú trọng xây dựng cấp tỉnh, từng bước giao quyền, phân quyền cho chính quyền tỉnh quản lý mọi mặt đời sống xã hội ở địa phương. Theo pháp luật hiện hành, các quyền của một cấp được giao cho HĐND và UBND cùng cấp. “HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của thường trực HĐND và UBND, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương” (Điều 1, Luật tổ chức HĐND, UBND) và “UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.

UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở” (Điều 2, Luật tổ chức HĐND, UBND).

Thế nhưng, với vai trò là hạt nhân của hệ thống chính trị ở địa phương, đảng bộ mà cơ quan lãnh đạo là tỉnh ủy, ban thường vụ cấp ủy mới thật sự có vai trò “tối cao” trong địa hạt của mình. Các văn bản cụ thể, chẳng hạn như quy chế làm việc của tỉnh ủy đều xác định: Các chủ trương về kinh tế-xã hội, ngân sách, an ninh quốc phòng, về vận dụng chính sách, các vấn đề có ảnh hưởng lớn đến đời sống, tư tưởng, chính trị của nhân dân hoặc vấn đề phải phối hợp hoạt động của các cơ quan đảng, đoàn thể, nhà nước đều phải do ban thường vụ tỉnh ủy, tỉnh ủy bàn bạc quyết định. Và, khi có nghị quyết, chỉ thị của tỉnh ủy và ban thường vụ tỉnh ủy, đảng đoàn HĐND và ban cán sự đảng UBND tỉnh căn cứ vào quy định của Nhà nước đưa ra HĐND tỉnh, UBND tỉnh thảo luận, thể chế hóa thành văn của HĐND và UBND tỉnh để tổ chức thực hiện bằng hệ thống các cơ quan nhà nước. Trong quá trình thực hiện, đảng đoàn HĐND và ban cán sự đảng UBND tỉnh báo cáo kết quả với ban thường vụ tỉnh ủy và tỉnh ủy. Hơn tất cả, ban thường vụ tỉnh ủy có thẩm quyền ra quyết định việc chia, tách, sáp nhập, thành lập mới hoặc giải thể các ban và cơ quan tỉnh ủy, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và quyết định các vấn đề về cán bộ thuộc diện quản lý của ban thường vụ tỉnh ủy (ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, tỉnh ủy viên; trưởng và phó các ngành cấp tỉnh và tương đương; bí thư, phó bí thư và chủ tịch UBND cấp huyện).

Với những quy định này, các cấp ủy thường có xu hướng can thiệp sâu vào công việc quản lý nhà nước và ngược lại, có thể do năng lực, do thiếu trách nhiệm, những người đứng đầu các cơ quan nhà nước “chờ” xin ý kiến cấp ủy, đẩy công việc sang tập thể để bảo toàn cá nhân mình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho bộ máy nhà nước kém năng động trong thời gian qua và khó thích ứng với môi trường cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Những vấn đề nêu trên càng đặt ra tính cấp thiết phải đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy, nhất là việc đổi mới sự lãnh đạo đối với cơ quan nhà nước cùng cấp.

Từ thực tiễn ở tỉnh, chúng tôi thấy có ba vấn đề sau đây cần xem xét:

1. Về ban hành văn bản của tỉnh ủy.

Một trong những yếu tố của lãnh đạo là ra quyết định (nghị quyết, chỉ thị, công văn…). Nhưng, tình trạng ra quá nhiều văn bản, nhiều cấp xây dựng văn bản làm cho việc điều hành chậm chạp, tính hiệu lực không cao là vấn đề cần cải tiến.

Trước đây, Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) đã chỉ rõ: “Cấp ủy và tổ chức đảng chỉ ra nghị quyết khi thấy thật cần thiết và lựa chọn đúng vấn đề. Những điều đã nói nhiều, đã quyết định chỉ cần chỉ đạo thực hiện cho bằng được”.

Tuy vậy, hầu như sau khi có nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, cấp tỉnh lại tiếp tục xây dựng nghị quyết cấp mình và chỉ đạo cấp ủy cấp dưới và ban cán sự đảng cùng cấp xây dựng nghị quyết với nội dung không khác nhau bao nhiêu. Có trường hợp, văn bản cấp trên ra chậm hơn hoạt động thực tế của cấp dưới. Tuy những trường hợp ấy, cấp trên không yêu cầu cấp dưới phải ra văn bản mới mà chỉ yêu cầu có điều chỉnh nội dung cho phù hợp. Xin được dẫn chứng một trong những văn bản gần đây:

Ngày 30-11-2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 54-CT/TW “về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới” đã chỉ đạo: “Các cấp ủy đảng… xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể thực hiện chương trình hành động của Chính phủ và Chỉ thị của Ban Bí thư”. Trong khi đó, UBND tỉnh cũng đã xây dựng kế hoạch hành động phòng, chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.

Hàng loạt công việc với biết bao thời gian đối với cơ quan liên quan của một cấp phải làm để xây dựng và triển khai văn bản.

Cần nghiên cứu để không phải cấp nào, vấn đề nào cũng có văn bản, nhưng nội dung ấy phải chuyển biến trên thực tế.

Thiết nghĩ, cấp ủy chỉ ban hành văn bản khi có yêu cầu mới, bức xúc và liên quan đến nhiều lĩnh vực. Những vấn đề đã có chỉ đạo nhưng không chuyển biến thì tổ chức các buổi làm việc trực tiếp để kiểm tra lại tình hình, tìm đúng nguyên nhân, đưa ra giải pháp sát thực. Trong văn bản chỉ đạo của mình, cấp ủy cấp trên không nên yêu cầu cấp dưới ban hành văn bản (rất có thể vì cấp trên yêu cầu mà xây dựng văn bản hơn là vì nhu cầu của thực tế). Việc ban hành văn bản hay lựa chọn hình thức, biện pháp gì để chỉ đạo do tổ chức đảng cấp dưới tự quyết định. Nếu tình hình thuộc nội dung chỉ đạo không chuyển biến thì cần xem xét năng lực người lãnh đạo đơn vị hơn là xem xét tên, loại văn bản của cấp ủy.

2. Về thẩm quyền trong công tác cán bộ.

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ là vấn đề có tính nguyên tắc. Nhưng, nội dung, cơ chế lãnh đạo và quản lý cán bộ như thế nào để phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan là vấn đề cần bàn. Thủ trưởng cơ quan chính là người chịu trách nhiệm về tình hình cán bộ và công việc của cơ quan mình với cấp ủy.

Mặc dù điểm 3, Điều 127 Luật tổ chức HĐND và UBND có xác lập quyền hạn của chủ tịch UBND là: “Phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên của UBND cấp dưới trực tiếp; điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý”, nhưng với cơ chế hiện hành trưởng và phó cấp tỉnh đều do ban thường vụ tỉnh ủy quyết định. Nếu như chủ tịch UBND tỉnh có quyền đối với các phó chủ tịch và thủ trưởng các ngành tỉnh, được chịu trách nhiệm trước tỉnh ủy, ban thường vụ tỉnh ủy về cán bộ của mình thì có lẽ sẽ không xảy ra tình trạng đổ lỗi cho nhau giữa trưởng và phó như báo chí nêu trong một số vụ tiêu cực.

Riêng các chức danh do cơ quan dân cử bầu, cần thực hiện đúng và thật sự dân chủ của quy trình “lên”, “xuống”, trong đó cấp ủy nên lựa chọn giới thiệu ít nhất hai người “ngang nhau” cho một chức danh.

3. Về cơ quan tham mưu.

Quá trình đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước cần đặc biệt chú trọng kiện toàn và nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa VIII) đã thực hiện việc sắp xếp lại tổ chức, bộ máy đảng ở địa phương với nhận thức đúng đắn rằng: “Trong điều kiện đảng cầm quyền, muốn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống tổ chức của Đảng phải mạnh, mạnh từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp ủy phải có bộ máy công tác của mình tinh gọn, có chất lượng cao, đủ sức tham mưu cho Đảng trong các vấn đề về xây dựng Đảng và trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách lớn, bảo đảm sức lãnh đạo, kiểm tra của cấp ủy đảng trong quá trình thực hiện. Mặt khác, cũng cần quan niệm thống nhất rằng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng không đồng nhất với việc lập nhiều ban tham mưu giúp việc, mà quan trọng nhất là tổ chức thế nào cho hợp lý, khoa học, hiệu quả, nâng cao chất lượng cơ quan tham mưu”. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa thực hiện được nội dung có tính quyết định: “Tăng cường cán bộ có chất lượng cao cho các cơ quan tham mưu của Đảng”.

Cần tiếp tục nghiên cứu để có thể tinh gọn các cơ quan tham mưu. Thường một tổ chức dễ có khuynh hướng bành trướng. Ban cần thêm phòng, phòng cần thêm cán bộ. Yêu cầu khách quan lại cần giảm phòng trong ban và giảm ban trong các cơ quan tham mưu. Trước đây, không ai nghĩ có ban nội chính tỉnh ủy, ban kinh tế tỉnh ủy, ban khoa giáo tỉnh ủy… Thực tế cho thấy, sáp nhập các cơ quan này không vì thế mà tỉnh ủy yếu đi.

Thứ đến, các cấp có thẩm quyền cần kịp thời xây dựng cơ chế chính sách để thu hút người tài về công tác ở các cơ quan đảng, làm sao để cán bộ cơ quan đảng cảm thấy tự hào và ra sức phấn đấu học tập, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt để xứng đáng là các “quân sư”. Các cơ chế, chính sách, các chế độ công tác, học tập… không được phá vỡ khung, thang lương cán bộ, công chức nói chung và phải được thống nhất, minh bạch, công khai trong các cơ quan đảng.

Tình hình trong nước và thế giới đặt ra yêu cầu mỗi cấp, mỗi ngành và mỗi người phải có quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường XHCN. Đổi mới sự lãnh đạo của tỉnh ủy đối với cơ quan nhà nước kịp thời và hiệu quả mới có thể “nhịp bước khẩn trương cùng thời đại”.

NGUYỄN VĂN BIẾT
Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS