Kiểm tra đảng viên (ĐV) và tổ chức đảng (TCĐ) cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp.
Nhiệm kỳ Đại hội Đảng IX vừa qua, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra ĐV và TCĐ có dấu hiệu vi phạm của UBKT các cấp đã có sự chuyển biến, tiến bộ rõ rệt cả về lượng và chất. Nếu như đầu nhiệm kỳ còn 15,8% số UBKT tỉnh, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chưa kiểm tra ĐV và 28,67% chưa kiểm tra TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm thì đến cuối nhiệm kỳ, tỷ lệ này chỉ còn 6,1% và 19,8%. Nhiều cấp ủy, TCĐ và ĐV đã nhận thức rõ hơn tính cấp thiết của việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, nên đã tăng cường chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện cho UBKT tiến hành kiểm tra tốt hơn. Tính chiến đấu của nhiều cấp ủy được đề cao, trong đấu tranh phê bình và tự phê bình thẳng thắn, khách quan hơn, nên phần lớn những đơn vị sau kiểm tra tốt hơn lên. Điều đó cho thấy: Việc xác định kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ trọng tâm của UBKT các cấp là đúng đắn; đã góp phần chủ động ngăn ngừa vi phạm, tiêu cực của cán bộ, đảng viên và TCĐ, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đề cao kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.
Tuy UBKT các cấp đã có cố gắng, tạo được chuyển biến tích cực trong thực hiện nhiệm vụ này, nhưng kết quả chưa tương xứng với đòi hỏi thực tế tình hình vi phạm của ĐV và TCĐ; chưa tập trung kiểm tra được nhiều ở những lĩnh vực, địa bàn có nhiều dấu hiệu vi phạm và dễ phát sinh vi phạm, những đối tượng chủ chốt là cấp ủy viên cùng cấp và cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý; có những vi phạm từ nhiều năm trước, nhưng chậm được phát hiện và kiểm tra. Vì vậy đã hạn chế việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, nhất là ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong Đảng, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do UBKT ở một số nơi tính chiến đấu chưa cao, còn nể nang, né tránh, ngại va chạm, thụ động trong phát hiện dấu hiệu vi phạm. Đảng viên và TCĐ được kiểm tra nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa của công tác kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới có dấu hiệu vi phạm là nhằm phòng ngừa vi phạm, giáo dục ĐV và TCĐ nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật, nên còn định kiến, mặc cảm, thiếu cộng tác khi được kiểm tra. Một số ít cấp ủy, TCĐ ở các cấp do nhận thức chưa đúng, sợ khuyết điểm, “chủ nghĩa thành tích” còn nặng nề, sợ mất cán bộ, sợ ảnh hưởng đến thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị nên không muốn kiểm tra, hoặc thiếu quan tâm lãnh đạo chỉ đạo UBKT thực hiện nhiệm vụ này.
Báo cáo công tác xây dựng đảng tại Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần kịp thời phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha; bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm tra tổ chức và cá nhân ĐV có dấu hiệu vi phạm phải tăng cường chủ động giám sát kiểm tra về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và việc chấp hành Điều lệ Đảng, nhất là về phẩm chất, đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên”. Để khắc phục những yếu kém, tồn tại, thực hiện với hiệu quả cao nhiệm vụ công tác kiểm tra mà Đại hội X của Đảng đã đề ra, trong đó có nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, theo chúng tôi, cần thực hiện tốt một số giải pháp:
Một là, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, TCĐ và ĐV về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của việc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Từ đó, TCĐ và ĐV chấp hành nghiêm chỉnh và phối hợp, cộng tác tốt với UBKT khi được kiểm tra. Việc tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, TCĐ và ĐV phải bằng nhiều hình thức, nhiều kênh thông tin khác nhau như qua tập huấn, bồi dưỡng về công tác kiểm tra; qua sinh hoạt đảng; qua các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả việc tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại về vấn đề này. Làm được như vậy thì việc nâng cao nhận thức trong Đảng về công tác kiểm tra, giám sát nói chung, kiểm tra ĐV và TCĐ có dấu hiệu vi phạm nói riêng sẽ có hiệu quả cao hơn.
Hai là, UBKT cần tham mưu với cấp ủy cấp mình chỉ đạo tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm ở địa phương, đơn vị mình nhiệm kỳ vừa qua để rút kinh nghiệm và có chủ trương, biện pháp chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ này một cách sát hợp, có hiệu quả cao hơn trong nhiệm kỳ 2006-2010. Sao cho, việc kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trở thành yêu cầu tất yếu, được tiến hành thường xuyên, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng ở từng địa phương, đơn vị. Có như vậy thì mục đích, chất lượng và hiệu quả kiểm tra mới đạt yêu cầu.
Ba là, kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ, trách nhiệm chính của UBKT các cấp. Vì thế, UBKT các cấp phải chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra toàn khóa, chương trình, kế hoạch cụ thể hằng năm và chủ động thực hiện theo đúng chương trình, kế hoạch đã đề ra; khắc phục tình trạng trong từng vụ việc cụ thể cũng phải chờ xin ý kiến đồng ý của cấp ủy mới triển khai thực hiện; dẫn đến vừa thụ động, vừa không thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo của công tác kiểm tra là “chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”.
Bốn là, UBKT và cán bộ kiểm tra phải chủ động khắc phục tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm; đổi mới việc phát hiện dấu hiệu vi phạm, nhất là qua công tác giám sát và chủ động tiến hành kiểm tra. Đồng thời với làm tốt công tác tư tưởng cho ĐV và TCĐ được kiểm tra, phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc, phương pháp, quy trình kiểm tra. UBKT cấp trên cần tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn UBKT cấp dưới tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. UBKT cấp dưới khi gặp khó khăn, vướng mắc thì phải chủ động báo cáo để UBKT cấp trên kịp thời chỉ đạo, giúp đỡ trong quá trình tiến hành kiểm tra. UBKT các cấp cần chủ động phân loại, lựa chọn những đơn thư tố cáo giấu tên, mạo tên có nội dung cụ thể, con người cụ thể, có căn cứ thẩm tra, xác minh kết hợp với các kênh thông tin khác để quyết định chuyển sang kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.
Năm là, UBKT các cấp phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ kiểm tra cho cán bộ kiểm tra về cách thức phát hiện dấu hiệu vi phạm, nhất là phương pháp thẩm tra, xác minh để làm rõ chứng lý, giúp việc xem xét, kết luận chuẩn xác, xử lý công minh, kịp thời.
Cấp ủy các cấp phải tăng cường chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho UBKT cấp mình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm. Ban hành quy chế phối hợp và chỉ đạo UBKT chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan trong việc kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm một cách có hiệu quả.
Để việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra ĐV và TCĐ cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm đạt chất lượng và hiệu quả cao, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ về chính trị, tư tưởng, tổ chức và các điều kiện cần thiết khác. Đồng thời, phải có sự thống nhất về nhận thức, hành động, quyết tâm, thể hiện rõ bản lĩnh và tính chiến đấu cao của UBKT các cấp trong thực hiện nhiệm vụ trọng tâm này ngay từ đầu nhiệm kỳ 2006-2010.
CAO VĂN THỐNG
Ủy ban Kiểm tra Trung ương