Lý luận - Thực tiễn
Nặng tình với quê hương
15:18' 15/2/2007


18 tuổi, Nguyễn Trọng Bình lên đường sang Nhật du học. Anh trở thành một trong những sinh viên Việt Nam xuất sắc tại Nhật, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ vi sinh, hóa sinh tại Đại học Tổng hợp Tokyo.

Gần 10 năm nay, TS. Nguyễn Trọng Bình làm nghiên cứu tại Hãng Dược phẩm Pfizer ở San Siego (Mỹ). Ông đã cùng các đồng nghiệp đóng góp quan trọng cho ngành y khoa thế giới khi cùng phát minh ra cách chữa bệnh mới cho bệnh nhân ung thư. Đó là việc cấy tế bào chuyển gen GmCSF tăng tính miễn dịch của bệnh nhân ung thư mạnh lên và đủ sức tự tiêu diệt tế bào ung thư. Đây là cách chữa mới, đã được Bộ Y tế Mỹ công nhận và đưa vào chữa bệnh lâm sàng. Không chỉ thế, TS. Nguyễn Trọng Bình còn có bốn sáng chế có giá trị tại Mỹ và châu Âu, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế.

Nặng tình với quê hương, với tâm đức của một nhà khoa học, ông muốn được cống hiến nhiều hơn cho đất nước. Ông được xem là một trong những điển hình về chuyển giao công nghệ mới, được nhận danh hiệu Vinh danh đất Việt. Phóng viên Tạp chí Xây dựng Đảng đã có dịp trò chuyện cùng TS. Nguyễn Trọng Bình.

 

Thưa ông, ông cảm nhận thế nào về mùa xuân đất nước trong sự gắn bó hài hòa của xuân đất trời, xuân dân tộc và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam?

Tôi về Việt Nam lần này hơn một tháng; tôi đã tham dự hội thảo quốc tế về công nghệ sinh học phân tử của Đại học Y Hà Nội và sau đó là hội thảo của Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập và đi thăm một số cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học của Đại học Cần Thơ. Đặc biệt hơn mọi lần về trước, lần này tôi được hòa nhập vào không khí hân hoan của bà con trong nước đón nhận tin thắng lợi Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); được chứng kiến những hoạt động sôi nổi của Hà Nội cũng như những nơi trong nước tôi đã đi qua chuẩn bị cho APEC Việt Nam 2006. Cho dù tiết trời cuối thu Hà Nội đã se lạnh nhưng hình ảnh lễ hội với cờ, hoa và những băng rôn, biểu ngữ rợp trời làm không khí trở nên ấm áp, tưng bừng. Tôi có cảm giác Việt Nam đang bừng lên hình ảnh Thánh Gióng vươn mình trỗi dậy góp mặt với năm châu. Với những thành tựu trên đường hội nhập quốc tế, đất nước Việt Nam hôm nay đã tạo được một thế đứng trong khu vực và toàn cầu. 

Hằng năm, mỗi độ xuân về, tuy ở xa Tổ quốc nhưng lòng tôi vẫn rộn ràng nhớ về mùa xuân của quê hương, đất nước. Mùa xuân của quê hương Việt Nam thật đặc biệt, thật tuyệt vời! Xuân đất trời hòa quyện cùng xuân dân tộc, với sự lãnh đạo đổi mới từng ngày của một Đảng sinh ra từ mùa xuân. Tôi chợt thấy như có tiếng gọi từ trong tim mình: Thăng Long, rồng thiêng đang bay lên! Việt Nam ơi, xuân đất trời, xuân thành công đang đến!

Với Việt Nam vận hội đang mở ra những thời cơ mới, nhưng cũng không ít những thách thức mới. Theo ông, Đảng và Nhà nước ta cần làm gì để xây dựng nguồn lực đủ sức vươn tới chớp lấy thời cơ, vượt qua thách thức đẩy tới sự phát triển bền vững của đất nước?

Tôi liên tưởng Việt Nam như một chiếc tàu đang ầm ầm trên đường tiến ra đại dương. Trước mặt con tàu có sóng to, gió lớn và tiềm ẩn những cơn giông tố bão táp nhưng bình minh cũng đang hiện rõ với biết bao vầng sáng kỳ thú. Điều mà mỗi người dân Việt trăn trở là làm sao đủ lực để vượt qua những cơn giông tố, làm sao để săn bắt được kình ngư. Và như vậy, theo tôi, Đảng và Nhà nước ta đang có rất nhiều việc phải làm nhằm xây dựng nguồn lực đủ sức vươn tới nắm bắt được thời cơ thời đại, vượt qua những thách thức của hội nhập vì sự phát triển bền vững của đất nước. Trong tất cả các nguồn lực phải tạo ra, nguồn lực quan trọng nhất là đại đoàn kết toàn dân tộc, mà Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của khối đại đoàn kết đó. Đó là nguồn lực của mọi nguồn lực. Từ cội nguồn của đại đoàn kết dân tộc sẽ phát huy được nội lực của toàn dân và sẽ là đòn bẩy, là động lực căn bản cho đất nước lấy đà phát triển cùng với sự trợ giúp quý báu từ các nước bè bạn khắp năm châu. Quá trình toàn cầu hóa tiếp tục đẩy nhanh, cuốn hút mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam vào sân chơi rộng lớn hơn và phức tạp hơn. Việt Nam cần đổi mới tư duy toàn diện, mạnh mẽ hơn nữa, tạo ra thế đứng bền vững trong sân chơi thế giới đầy triển vọng, nhưng cũng lắm cam go, thách đố.

Thành tựu đạt được của hơn 20 năm đổi mới đất nước có sự đóng góp công sức của kiều bào ta ở nước ngoài. Theo ông, Đảng và Nhà nước ta cần có cơ chế, chính sách như thế nào để có thể thu hút, khuyến khích chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước?

Tôi nghĩ, người Việt Nam cũng như những chuyên gia, trí thức ở nước ngoài ai cũng mong muốn được đóng góp tài sức của mình để góp phần xây dựng đất nước; đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH. Đảng và Nhà nước cần đổi mới tư duy, tạo môi trường để trí thức phát huy sự sáng tạo và có cơ chế thông thoáng, coi trọng những ý tưởng mới và tạo điều kiện để những sáng kiến, ý tưởng khoa học đó thành hiện thực. Để làm được như vậy, cơ cấu tổ chức cần được sắp xếp gọn nhẹ, có hiệu lực và phải sử dụng nhân tài đúng vị trí. Đại hội X của Đảng, Nghị quyết số 36 của Bộ Chính trị đã khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam...”. Không nên mời gọi trí thức Việt kiều một cách chung chung, mà cần “tạo điều kiện thuận lợi”, và “không ưu đãi”, bởi ưu đãi là còn phân biệt. Nhân tài cả trong và ngoài nước đều phải được trân trọng như nhau. Với xu hướng toàn cầu hóa và công nghệ thông tin toàn cầu hiện nay, khoảng cách về địa lý không còn là một trở ngại. Một người làm việc trong một công ty đa quốc gia có thể ngồi tại nửa quả đất bên này họp bàn với đồng nghiệp ở phía bên kia quả đất, hoặc những cuộc hội họp qua màn hình của nhiều người ở những châu lục khác nhau, xa nhau hàng vạn dặm. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước có cơ chế tạo điều kiện tốt thì những trí thức Việt kiều tuy sinh sống ở nước ngoài nhưng vẫn đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.

Ông thường tâm sự “Chất Việt Nam như chất muối mặn trong máu tôi”. Vậy sắp tới ông có dự định gì mới để tiếp tục đóng góp tài trí của mình với đất nước?

Vâng, tôi vẫn thường nghĩ như vậy. Vì ở xa quê hương, có những lúc nghe câu hát dân ca bỗng dưng những hình ảnh liền anh xúng xính trong quần trắng, áo the, khăn xếp, các liền chị với nón quai thao, áo ba tầm và những cơi trầu cánh phượng thẹn thùng trong câu ca Quan họ; những trưa hè, tiếng gà gáy eo óc trong các làng quê, những kỷ niệm thời ấu thơ ở Việt Nam cứ hiện về như đã ngấm sâu trong máu mình vậy.

Trong những lần tham gia hội thảo, giảng dạy chuyên môn tại các trường đại học, viện nghiên cứu của Việt Nam, tôi nhận thấy ở Việt Nam tuy trong hoàn cảnh eo hẹp về cơ sở vật chất nhưng có những đề tài nghiên cứu rất hay, những thành quả nghiên cứu mang tầm vóc thời đại và ngang tầm quốc tế, rất đáng tự hào. Tuy nhiên, những đề tài ấy rất ít thấy được công bố trên các tạp chí nghiên cứu quốc tế; những thành công trong phòng nghiên cứu ít được đem ra triển khai ứng dụng trong thực tiễn thành những sản phẩm mang tính kinh tế cao. Trong khi đó, những nhà sản xuất, nhà nông thì hằng ngày vẫn sản xuất bằng những phương pháp truyền thống, thói quen mà ít được tiếp cận khoa học và công nghệ. Do đó, những sản phẩm của Việt Nam ít mang vóc dáng của sản phẩm công nghiệp. Trong thời đại hội nhập, cạnh tranh toàn cầu, hàng sản xuất của Việt Nam cần phải nâng cấp để có giá trị cao hơn và mang lại lợi nhuận cao hơn. Sự thành công về kinh tế sẽ là những nguồn nuôi lớn sự phát triển công nghiệp và hiện đại hóa đất nước.

Trong quá trình làm việc ở nước ngoài, tôi được may mắn tham gia đội ngũ những nhà khoa học Mỹ, nghiên cứu khoa học và đánh giá tính kinh tế, khả thi của những thành tựu khoa học trong phòng nghiên cứu trước khi triển khai sản xuất thành phẩm. Với những việc đang làm trong một số trường đại học và cơ sở nghiên cứu ở Việt Nam, nếu có dịp mang những kiến thức và kinh nghiệm đã có qua nhiều năm làm việc ở nước ngoài đóng góp với đồng nghiệp là tôi sẵn sàng. Góp sức vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việt Nam là điều tôi hằng thiết tha.

Ông có dự định về nước làm việc?

Tôi nghĩ sống ở đâu không quan trọng, mà quan trọng hơn là sẽ làm được việc gì, giúp ích gì cho quê hương mình. Việt Nam tuy xa nửa vòng trái đất nhưng luôn rất gần trong tôi. Tôi còn nhớ vào thập niên 90, với sự giúp đỡ của bạn bè, chúng tôi đã đưa được hai cháu bé bị ung thư máu sang Mỹ chữa chạy sớm nhất trong cuộc chạy đua với tử thần. Đến nay, hai cháu bé vẫn khỏe mạnh là niềm vui vô tận đối với tôi.

Mỗi năm về thăm quê hương, tôi lại có cuộc hành trình để chuyển giao công nghệ cho trí thức trẻ Việt Nam. Có khi trên đường đi, phát hiện ra một loại hại cây lúa, tôi dừng lại để hướng dẫn bà con nông dân cách phòng, cách chữa trị, rồi những buổi chuyện trò, hướng dẫn họ trồng nấm rơm bằng cách ủ men nấm... Đó là những kỷ niệm khó quên. Trên những chặng hành trình, những vùng quê nơi dừng chân, tôi được bà con tiếp đón mộc mạc, một nồi canh chua cá lóc, những nồi lẩu mắm thơm ngát hay gói quà là lọ mắm tôm, gói bột sắn để mang về Mỹ... Có tình cảm nào mà chân thành, thơm thảo hơn thế.

Tôi nghĩ, là người Việt Nam thì dù ở đâu cũng đều là con cháu Vua Hùng đất Việt, ai cũng muốn làm rạng rỡ non sông đất nước mình, được đem tài trí của mình phụng sự Tổ quốc.

Xin chân thành cảm ơn ông!

HẢI PHONG
Thực hiện
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS