Hơn 2000 năm có mặt trên đất Việt, với tư tưởng giáo lý từ bi hỉ xả, bình đẳng, bác ái rất gần gũi với tinh thần vị tha, bao dung, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau trong đạo lý truyền thống của người Việt, Phật giáo đã ăn sâu, bén rễ và phát triển, trở thành một bộ phận của văn hóa tinh thần người Việt góp phần tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, tăng ni, phật tử luôn thực hiện “Phật pháp bất ly thế gian giác”, kề vai, sát cánh cùng toàn dân thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh vĩ đại, chống lại các kẻ thù xâm lược bảo vệ và dựng xây Tổ quốc Việt Nam.
Cánh cửa thời gian năm 2007 đã mở, Xuân Đinh Hợi đã về. Xuân Việt Nam thật kỳ diệu, thật đặc biệt: Xuân đất trời - Xuân dân tộc trùng với Ngày sinh của Đảng, tạo nên những Hội Xuân - Hội chùa, lễ Phật mừng Xuân - mừng Đảng, mừng Đất nước đổi mới, trở thành Văn hóa Xuân Việt Nam.
Là một trong những tôn giáo có mặt sớm nhất ở đất Việt, dù có lúc thăng trầm, song Phật giáo: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác, ly thế mích bồ đề, thí như cầu thố giác” (Phật pháp tại thế gian, nếu bỏ thế gian này mà đi tìm chân lý giác ngộ thì chẳng khác nào đi tìm lông rùa, sừng thỏ), Phật giáo luôn luôn đồng hành cùng dân tộc và đã từng phát triển đến mức thịnh đạt, được xem như “quốc giáo” của người Việt ở thời Lý - Trần.
Trước đó, ngay từ thời nhà Đinh và tiền Lê, Phật giáo đã có đóng góp đáng kể góp phần đào tạo một tầng lớp trí thức người Việt. Chính sách nô dịch và hạn chế việc đào tạo người Việt trở thành trí thức của chính quyền đô hộ Hán - Đường đã phần nào hun đúc ý thức độc lập dân tộc của các thiền sư Việt Nam. Nhận thiền chỉ của Tì Ni Đa Lưu Chi, thiền sư Pháp Hiền (đệ tử của thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi) đã mở trường giảng ở chùa Chúng Thiện, núi Thiên Phúc thuộc vùng Tiên Du (Bắc Ninh) để dạy học trò. Và, “tăng chúng đến ở thường hơn ba trăm. Thiền học phương Nam nhờ thế mà thịnh…”(1). Do vậy, tầng lớp trí thức đầu tiên của người Việt chính là các trí thức Phật giáo. Sang thế kỷ VII, VIII, nhiều tăng sĩ Việt Nam vừa uyên thâm Phật giáo lại giỏi cả tiếng Phạn và tiếng Hán, đã tham gia chú giải Kinh Phật. Đến thế kỷ X, chính các thiền sư là tầng lớp trí thức trụ cột của chính quyền độc lập đầu tiên của nước Việt như Đại Việt sử ký toàn thư đã chép: “Phàm việc quân việc nước của triều đình sư đều dự vào” mà tiêu biểu là Tăng thống Ngô Chân Lưu. Công sức đóng góp của ông đã được triều đình ghi nhận, Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng đích thân phong cho ông là Tăng thống và ban hiệu Khuông Việt đại sư (nhà sư giúp nước Việt). Vua Lê Đại Hành khi lên ngôi đã mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh vào triều đình làm cố vấn chính trị, đem vận nước ngắn dài (chính xác hơn là vận mệnh của triều đại mình) ra để hỏi ý kiến thiền sư Pháp Thuận. Và chính ông, một trong những người trực tiếp tham gia chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Tống của quân dân nước Đại Cồ Việt năm 981 đã thực hiện theo đúng tinh thần phát huy khối đại đoàn kết của nhân dân, đã đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Sang thời nhà Lý, Phật giáo được xem như quốc giáo của người Việt. Việc Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên Vương triều Lý có công rất lớn của thiền sư Vạn Hạnh. Lý Công Uẩn được đào tạo trong môi trường của Phật giáo và được giới Phật giáo đưa lên ngôi báu. Thiền sư Vạn Hạnh chính là người đã nuôi dạy Lý Công Uẩn từ lúc nhỏ, ông đã có tác động to lớn với vị Vua đầu triều Lý và thấy Lý Công Uẩn là người thông minh, tài đức, có nhãn quan chiến lược về chính trị, văn hóa, kinh tế sâu sắc. Sau này chính vua Lý Công Uẩn nhận ra vị trí chiến lược của Đại La “xét cả nước Việt ta nơi đây quả là thánh địa, đủ làm yếu điểm để bốn phương tụ hội, làm thượng đô cho muôn đời” (Chiếu dời đô) đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên là Thăng Long. Công lao của thiền sư Vạn Hạnh, hơn 50 năm sau vẫn được vua Lý Nhân Tông đề thơ truy tặng:
Vạn Hạnh dung ba cõi
Thật hợp sấm lời xưa
Quê hương tên Cổ Pháp
Chống gậy giữ kinh vua(2).
Các đời vua Lý tiếp theo và sang cả thời Trần, Phật giáo tiếp tục phát triển, nhiều nhà sư vẫn có uy tín và địa vị chính trị-xã hội đối với triều đình như thiền sư Thiền Nguyệt, Mãn Giác, Viên Thông, Đạo Hạnh, Minh Không… Các giai đoạn lịch sử tiếp theo, ảnh hưởng của Phật giáo tới đời sống tinh thần và văn hóa của dân tộc Việt vẫn không kém phần khởi sắc.
Đặc biệt từ mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam á. Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước luôn phát huy truyền thống của dân tộc, có chính sách và quan điểm đúng đắn, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chính trị-xã hội với tôn giáo, khẳng định tôn trọng tự do tín ngưỡng của người dân, coi tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tăng ni Phật giáo Việt Nam hơn lúc nào hết, càng ý thức được sự cần thiết và quyết tâm thực hiện lời dạy của lục cổ Huệ Năng, thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào lương - giáo và đoàn kết giữa các tôn giáo mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi. Chính sự không phân biệt đối xử giữa các tôn giáo ấy đã lôi cuốn được tăng ni, phật tử tham gia cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự có mặt của Hòa thượng Thích Mật Thể, đại biểu Phật giáo đầu tiên tham gia Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã khẳng định con đường đi, đồng thời là tôn chỉ của Phật giáo trong giai đoạn mới là Đạo pháp - Dân tộc - Nhân sinh. Từ đó đến nay, tăng sĩ Phật giáo luôn có mặt trong các khóa Quốc hội. Đó không chỉ đơn thuần là cơ cấu, thành phần của Quốc hội, mà mang một ý nghĩa lớn lao, thể hiện sự tín nhiệm của tăng ni, phật tử, của nhân dân và ghi nhận của Đảng, Nhà nước về những đóng góp của giới Phật giáo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt từ sau Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam (7-11-1981), Giáo hội Phật giáo Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới, lấy phương châm hoạt động “Đạo pháp- Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Phương châm ấy không chỉ phù hợp với sự phát triển đất nước mà chính là sự vận dụng lời dạy của Phật tổ trong giai đoạn mới, giai đoạn cần có sự kết hợp hài hòa giữa sự phát triển của Phật giáo với lợi ích dân tộc, chung tay góp sức cùng nhân dân cả nước xây dựng một nước Việt Nam XHCN.
Không chỉ tham gia trong các cơ quan dân cử, ngay từ khi Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập (18-11-1930), lớp lớp các thế hệ tăng ni Phật giáo Việt Nam đã có mặt trong tổ chức chính trị-xã hội này để thể hiện ý chí, nguyện vọng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhiều hòa thượng, thượng tọa đã tham gia và giữ chức vụ cao trong cơ quan lãnh đạo mặt trận các cấp, trong đó có Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hiện là Phó chủ tịch ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong hội đồng nhân dân các cấp của 64 tỉnh, thành phố đều có sự tham gia của tăng ni Phật giáo. Đó là những đại diện xuất sắc của tăng ni Việt Nam trong việc thực hiện lý tưởng và lợi lạc vì dân và Đạo pháp, kết hợp việc Đạo với việc Đời…
Mọi hoạt động với tinh thần “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” và “Phật pháp bất ly thế gian giác”, tăng ni, phật tử trong cả nước đã hăng hái, tự nguyện tham gia các phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa”, “Xóa đói, giảm nghèo”, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” do Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Hàng trăm bà mẹ Việt Nam Anh hùng, hàng nghìn trẻ mồ côi được nuôi dưỡng và giúp đỡ, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa được xây dựng và hàng trăm tỷ đồng thu được mỗi năm từ sự tự nguyện quyên góp của hơn 14.000 cơ sở thờ tự Phật giáo trong cả nước… đã phần nào chia sẻ và làm dịu những mất mát, thiệt hại, nhọc nhằn của người dân khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Những hành động ấy thể hiện đạo lý ngàn đời của người Việt Nam nhưng cũng thấm đẫm tinh thần Phật giáo “Lá lành đùm lá rách”. Qua những hoạt động này, nhiều tấm gương người tốt việc tốt đã xuất hiện trong Phật giới. Ghi nhận công đức của Phật giới, nhiều cá nhân đã được Nhà nước tặng thưởng huân chương cao quý như Hòa thượng Thích Thiện Hào được tặng Huân chương Hồ Chí Minh, đức đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận, đức đệ nhị Pháp chủ Thích Tâm Tịch, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Thuận Đức được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất; Hòa thượng Kim Cương Tử, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Minh Châu được tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì… Có thể nói, thành quả tốt đẹp của những hoạt động phụng đạo yêu nước, tham gia vào các cơ quan dân cử và Mặt trận Tổ quốc các cấp của tăng ni đã góp một phần không nhỏ vào việc ổn định xã hội, xây dựng kinh tế, đồng thời khẳng định niềm tin của Phật giáo Việt Nam vào chế độ XHCN, sự vận dụng đúng đắn tinh thần “khế lý, khế cơ” của giáo lý Đức Phật vào hoàn cảnh và vị thế mới của đất nước. Hơn nữa, đó còn thể hiện sự tin tưởng của nhân dân, của Đảng và Nhà nước với Tăng ni Phật giáo Việt Nam.
Hơn 2000 năm có mặt trên đất Việt, Phật giáo đã ăn sâu, bén rễ và phát triển trong xã hội Việt, trở thành một bộ phận của văn hóa tinh thần, góp phần tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong quá trình ấy, tăng ni, phật tử vẫn luôn luôn cùng nhân dân kề vai sát cánh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, tạo nên khối sức mạnh để chống lại kẻ thù, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN trường tồn và ngày càng tố hảo.
___
(1) Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Thiền uyển tập anh, Phân viện nghiên cứu Phật học, NXB Văn học, 1990, tr.170. (2) Lịch sử Phật giáo VN, tập 2, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 613.
Thượng toạ THÍCH BẢO NGHIÊM