Lý luận - Thực tiễn
Quảng Nam quy hoạch cán bộ
10:44' 18/10/2007


Thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 47-HD/BTCTW ngày 24-5-2005 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ (QHCB) lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, ngay sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo và xem đây là một  trọng tâm công tác của cả nhiệm kỳ.

Nhận thức sâu sắc QHCB là công việc vừa có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện thành công nghị quyết đại hội của tỉnh lại vừa đòi hỏi nhiều công phu, đảm bảo tính dân chủ, nguyên tắc chặt chẽ, ngay từ đầu năm 2006, Tỉnh uỷ đã ban hành đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2015”, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ ban hành Hướng dẫn 09-HD/BTC ngày 14-4-2006. Đồng thời, Ban Thường vụ Tỉnh ủy thành lập đoàn khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ cấp cơ sở đến huyện, thành phố, hướng dẫn, uốn nắn, điều chỉnh cách làm chưa đúng của các cấp uỷ trực thuộc trong quá trình triển khai.

Nét chuyển biến của công tác QHCB lần này khá rõ: Các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn của tỉnh đều quy định cụ thể trách nhiệm trực tiếp của các cấp uỷ, của người đứng đầu trong quá trình triển khai công tác này. Do đó, trong chương trình công tác của mình, các cấp uỷ trực thuộc đã xác định công tác QHCB là công tác trọng tâm của cấp mình trong năm 2006-2007 và cả nhiệm kỳ.

1- Các bước triển khai cụ thể.

Mỗi cấp ủy trước khi bắt tay vào thực hiện các bước theo quy trình QHCB đều tiến hành rà soát lại thực trạng đội ngũ cán bộ, kết quả QHCB của nhiệm kỳ trước. Sau đó, căn cứ vào Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị, Hướng dẫn 47 của Ban Tổ chức Trung ương, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Tỉnh uỷ và Ban Tổ chức Tỉnh uỷ; trên cơ sở các nhiệm vụ chính trị, mỗi cấp uỷ đề ra:

- Phương hướng cấu tạo ban chấp hành đảng bộ của nhiệm kỳ sắp tới. Trong nội dung này dự kiến số lượng cấp uỷ ở từng lĩnh vực như khối đảng, khối quản lý nhà nước, khối mặt trận, đoàn thể, cấp ủy trực thuộc… Tỷ lệ trẻ (cấp uỷ huyện dưới 30 tuổi, cấp tỉnh dưới 35 tuổi), nữ, dân tộc thiểu số…

- Quy định cụ thể các tiêu chuẩn về phẩm chất, trình độ năng lực. Tại nội dung này, yêu cầu về trình độ lý luận chính trị (LLCT) và chuyên môn được lượng hoá. Ví dụ: Đối với cấp huyện, tỉnh phải có trình độ LLCT cao cấp trở lên, tốt nghiệp đại học chuyên ngành. Ngoài ra, còn quy định cụ thể về thời gian cho từng cấp và quy định chế độ báo cáo tiến độ thường xuyên.

Trong thực hiện các quy định thì quy định về độ tuổi đưa vào quy hoạch là gặp “lấn cấn” nhất. Theo Hướng dẫn 47 của Ban Tổ chức Trung ương, những đồng chí đương chức còn đủ tuổi cho 2/3 nhiệm kỳ nếu vẫn đảm bảo điều kiện, tiêu chuẩn thì có thể tiếp tục đưa vào quy hoạch. Nhưng thực tế ở một số nơi, khi ban thường vụ cấp uỷ xem xét thì những đồng chí trong ban thường vụ, cán bộ chủ chốt quá độ tuổi theo quy định vẫn được đưa vào. Đây là biểu hiện của sự nể nang. Những trường hợp này, khi Ban Thường vụ Tỉnh ủy xem xét đã đưa ra khỏi quy hoạch, đảm bảo đúng quy định.

Trong quá trình tiến hành quy hoạch, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thành lập các tổ (thành viên các ban đảng) và có kế hoạch về nội dung và thời gian cụ thể xuống tận nơi kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, giúp cấp dưới trong quá trình QHCB. Sau khi làm xong, kết quả từng địa phương, đơn vị được gửi về Ban Tổ chức Tỉnh uỷ để các ban đảng tiến hành thẩm định, kiểm tra. Nếu đơn vị nào chưa đạt theo yêu cầu về tỷ lệ nữ, trẻ, dân tộc thiểu số, các tiêu chuẩn về trình độ LLCT, chuyên môn nghiệp vụ… thì được trả về để bổ sung, điều chỉnh. Nơi nào không có nguồn đảm bảo tiêu chuẩn thì Ban Tổ chức Tỉnh uỷ có trách nhiệm nghiên cứu để tìm giải pháp khắc phục bằng cách bổ sung nguồn từ nơi khác đến. Tỉnh ủy kiên quyết, dứt khoát thực hiện quy hoạch theo đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương.

Các hội nghị theo Hướng dẫn 47 của Ban Tổ chức Trung ương được các cơ quan tham mưu chuẩn bị thông tin, thủ tục đầy đủ. Tiến hành đảm bảo tính dân chủ, công khai. Nhờ vậy, phiếu của các thành viên dự hội nghị khá tập trung, thể hiện ở chỗ tỷ lệ phiếu của các đối tượng được giới thiệu vào quy hoạch ở hội nghị chủ chốt và hội nghị Tỉnh uỷ khá giống nhau.

2. Kết quả bước đầu.

Kết quả quy hoạch A1 ở cả ba cấp (tỉnh, huyện, xã) cơ bản đảm bảo chất lượng, số lượng và cơ cấu hợp lý. Số lượng dự nguồn cho cấp uỷ xã đạt 1,87 lần, cấp huyện đạt 1,84 lần và cấp tỉnh đạt 1,55 lần. Tỷ lệ cán bộ nữ ở cấp xã đạt 23,01%, cấp huyện đạt 14,47%, cấp tỉnh đạt 15,79%. Cán bộ là người dân tộc thiểu số của 8 huyện miền núi ở cấp xã đạt 59,66%, cấp huyện đạt 34,68%. Về trình độ học vấn, tốt nghiệp PTTH ở cấp xã đạt 8,28%, cấp huyện đạt 95% và cấp tỉnh đạt 100%. Về trình độ chuyên môn, từ trung cấp trở lên cấp xã đạt 57,8%; cao đẳng, đại học trở lên ở cấp huyện đạt 89,55% và trình độ đại học trở lên ở cấp tỉnh đạt 94,72% (trên đại học đạt gần 7%). Về trình độ LLCT, từ trung cấp trở lên ở cấp xã đạt 43,24%; cấp huyện đạt 77,36%; cấp tỉnh đạt 100% (cao cấp, cử nhân chính trị đạt 90,78%).

Cán bộ đưa vào nguồn quy hoạch các chức danh ủy viên ban thường vụ, bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND của cả ba cấp cơ bản đạt hệ số và chất lượng theo quy định.

3. Một số hạn chế.

Bên cạnh những kết quả đạt được, QHCB A1 của tỉnh vẫn còn bộc lộ một số hạn chế:

Tỷ lệ cán bộ trẻ, nữ vẫn còn thấp so với yêu cầu. Trong quy hoạch cấp xã còn tỷ lệ khá lớn số cán bộ chưa qua đào tạo chuyên môn, LLCT (nợ chuyên môn 42,2%, LLCT 34,84%). Trong số được đưa vào quy hoạch lần đầu, nhiều đồng chí trên 50 tuổi (cấp huyện chiếm 6,66%), thậm chí có một số huyện tỷ lệ này còn khá cao như Bắc Trà My 32,2%, Núi Thành 25,71%.

Đối với khối sở, ban, ngành, đoàn thể, việc triển khai quy hoạch còn chậm, đến giữa tháng 8/2007 mới xong. Nhiều đơn vị vẫn còn hiện tượng “khoán trắng” cho bộ phận tổ chức hành chính nên vẫn còn mang tính hình thức, đối phó. Nét hạn chế rõ nhất là cán bộ đưa vào quy hoạch vẫn khép kín trong nội bộ, theo trật tự “ở lâu lên lão làng”. Nhiều trưởng, phó phòng lớn tuổi vẫn đưa vào quy hoạch dự nguồn giám đốc hoặc phó giám đốc. Nguyên nhân của những hạn chế này là do người đứng đầu, cấp uỷ chưa thật sự nhận thức đúng về công tác QHCB.

4. Nhiệm vụ trong thời gian tới.

Kết quả QBCB A1 là cơ sở để cấp uỷ các cấp tiếp tục triển khai những công việc tiếp theo: Đánh giá cán bộ để bổ sung, điều chỉnh, hoàn chỉnh ở bước A2. Trong bước A2, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ bổ sung thêm nguồn cấp uỷ, nâng tỷ lệ nữ, trẻ. Trên cơ sở kết quả quy hoạch này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy sẽ có kế hoạch tiến hành công tác luân chuyển cán bộ để tạo môi trường rèn luyện, phấn đấu đối với những cán bộ trẻ trong quy hoạch.

Thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, cần rà soát lại những cán bộ có trong quy hoạch còn “nợ” chuẩn học vấn, chuyên môn, LLCT. Lập kế hoạch đưa đi đào tạo, nhất là đối với cán bộ cấp xã. Đây là vấn đề hết sức khó khăn đối với tỉnh khi kinh phí cần cho công tác đào tạo lớn, ngân sách của tỉnh còn nhiều hạn chế. Một yêu cầu đặt ra là đến năm 2020 tất cả đối tượng nằm trong quy hoạch phải đạt tiêu chuẩn theo quy định thì quy hoạch mới có ý nghĩa thực tiễn khi bước vào triển khai công tác nhân sự phục vụ cho bầu cử HĐND và đại hội đảng bộ nhiệm kỳ tới.

Tóm lại, công tác QHCB của tỉnh Quảng Nam đã triển khai sớm, chặt chẽ, bước đầu đạt được kết quả tốt so với yêu cầu. Tuy nhiên, để kết quả này phát huy tác dụng tích cực đến cuối nhiệm kỳ, đặc biệt trong dịp chuẩn bị đại hội, vẫn còn nhiều việc phải làm, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm lớn của cấp uỷ và từng đồng chí được quy hoạch.
NGUYỄN VĂN TẤN
Phó vụ trưởng Vụ II, Ban Tổ chức TƯ
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS