Bình sinh, Bác Phạm Văn Đồng thường chú ý đến chiến lược con người. Bác cho rằng, muốn có nhân tài, muốn có cán bộ giỏi, trước hết phải xây dựng cho được chiến lược con người. Muốn có nhân tài phải có sự trợ giúp của Đảng và Nhà nước. Chính thuật ngữ “chiến lược con người” do Bác nêu lên lần đầu vào khoảng những năm 80 thế kỷ XX.
ý tưởng này xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân tài và kiến quốc. Năm 1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề đào tạo, sử dụng nhân tài. Người viết: “Kiến quốc cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển càng thêm nhiều”(1).
Chủ tịch Hồ Chí Minh trọng dụng nhân tài. Chính sách thu hút nhân tài của Hồ Chí Minh đã được các tầng lớp trí thức Việt Nam hưởng ứng sôi nổi. Với tầm nhìn xa trông rộng, với trái tim nhân hậu và tấm lòng chân thành chiêu hiền, đãi sĩ, Hồ Chí Minh đã quy tụ được anh tài bốn phương chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của dân tộc. Những cán bộ tài giỏi như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Ngọc Thạch, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Ngữ… đã tình nguyện đi theo lời kêu gọi của Người, giã từ vinh hoa, phú quý để lên đường kháng chiến, giải phóng dân tộc, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Lúc bấy giờ, đất nước còn nghèo, Bác Hồ chẳng có gì “đãi sĩ”, nhưng vì Bác có cái tâm vô cùng trong sáng, có tài thuyết phục nên Bác đã “chiêu” được nhiều người hiền tài. Người không bao giờ định kiến với người tài và hết lòng quý trọng, nâng đỡ, động viên, an ủi người tài, làm cho người tài vô cùng cảm động.
Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược, cứu nước, cứu nhà, mặc dù cả dân tộc đều phải cầm súng, cầm gươm, Đảng và Bác Hồ với tầm nhìn chiến lược, đã dành một phần nguồn nhân lực và kinh phí để gửi ra nước ngoài đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ trực tiếp cho kháng chiến và dự trữ cho công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Hàng chục vạn con em công nhân, nông dân, trí thức được cử ra nước ngoài học tập và nghiên cứu. Lực lượng này trở về nước đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều người đã trở thành nhà khoa học, nhà quản lý có phẩm chất và tài năng.
Phạm Văn Đồng đã học được đức tính này của Hồ Chí Minh, nên hết sức mến mộ người tài. Các “nho sĩ” rất muốn được gặp “Anh Tô yêu quý” và muốn được tâm tình, tâm sự cùng Anh. Từ ngày Anh Tô đi xa, để lại một khoảng trống vắng đối với trí thức. “Kho văn hoá, kho kiến thức” ấy tuy đã yên nghỉ nghìn thu, nhưng tư tưởng, tình cảm của Bác Phạm Văn Đồng vẫn còn lắng đọng trong tâm trí mọi người, nhất là giới trí thức.
Muốn xây dựng chiến lược con người để đào tạo nhân tài, theo quan điểm của Bác Phạm Văn Đồng, phải đặc biệt chú ý đến chất lượng giáo dục. Muốn có chất lượng giáo dục, phải xây dựng cho được đội ngũ những người dạy giỏi và những người học giỏi. Câu mà Bác Phạm Văn Đồng vẫn nói mỗi khi tiếp xúc với Ngành Giáo dục Việt Nam: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là “cái đòn xeo của loài người, của các dân tộc”, là “tương lai của dân tộc”. Muốn có chất lượng giáo dục, điều trước hết phải “thầy ra thầy, trò ra trò, trường ra trường, lớp ra lớp”. Bác chỉ giáo những nguyên lý và phương châm giáo dục phổ thông, giáo dục đại học. Bác đề ra những yêu cầu về nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng của giáo dục. Người thầy phải nêu cao tấm gương sáng cho học sinh, chú trọng bồi dưỡng kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên sâu, năng lực tư duy và phương pháp học tập cho học sinh; học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn.
Trong những ngày sức yếu, Bác Phạm Văn Đồng vẫn dành thời gian kể cho anh Trần Việt Phương và những cộng sự viết một cuốn sách về giáo dục và đào tạo(2), trình bày một cách có hệ thống và sức thuyết phục về nội dung, phương hướng cải cách giáo dục trong công cuộc đổi mới đất nước. Phải đặt giáo dục trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ. Mọi người đều được học hành, được nghiên cứu, được cung cấp thông tin. Muốn có một nền giáo dục bền vững và phát triển, thì phải có những chính sách đúng và phù hợp. Những chính sách đó phải tạo ra được nguồn nhân lực, nhân tài dồi dào cho đất nước.
Nhân tài phải biết cách làm giàu, phong phú cho cuộc sống. Những người nói suông mặc dầu có đọc “thiên kinh vạn quyển” ngồi mà kêu ca, phê phán không đề xuất được giải pháp gì để làm giàu cho đất nước cũng không thể gọi là nhân tài.
Trong giáo dục, Bác Phạm Văn Đồng đặc biệt quan tâm đến phương pháp giảng dạy. Sau khi có chính sách giáo dục đúng, thì phương pháp lãnh đạo giáo dục và phương pháp giáo dục đóng vai trò quyết định.
Những năm 60 và 80 thế kỷ XX, Bác Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Uỷ ban Cải cách giáo dục Trung ương. Bác đã xây dựng Chương trình cải cách giáo dục theo phương châm cơ bản, hiện đại, dân tộc. Yêu cầu mà Bác đặt ra trong Chương trình cải cách giáo dục và cải cách sách giáo khoa là phải phản ánh được những vấn đề cơ bản về đất nước, lịch sử, con người, dân tộc Việt Nam.
Coi trọng giáo dục, đồng thời Bác Phạm Văn Đồng cũng coi trọng khoa học. Bác nói: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và “Khoa học là quốc sách hàng đầu”. Hai “quốc sách hàng đầu” tạo nên sự nghiệp CNH, HđH đất nước. Khoa học vừa là khả năng, vừa là hiện thực, là tổng kết sự phát triển lâu dài của tri thức. Mục đích của khoa học là phát hiện ra những quy luật khách quan của các hiện tượng và giải thích những hiện tượng đó. “Nó là kẻ thù của ngẫu nhiên” (Phạm Văn Đồng nhắc lại câu nói của C.Mác). Nhiệm vụ của khoa học là thông qua vô vàn những hiện tượng ngẫu nhiên và lộn xộn mà phát hiện, nghiên cứu những quy luật khách quan. Sức mạnh của khoa học thể hiện ở tính khái quát, tính tổng kết. Khoa học xuất hiện và phát triển từ thực tiễn. Bác khẳng định, con người Việt Nam rất thông minh, Đảng và Nhà nước có chính sách đúng, nhất định sẽ tạo ra những cán bộ khoa học - kỹ thuật tài năng.
Bác Phạm Văn Đồng coi trọng tổ chức các cơ quan nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, quan tâm đến việc đào tạo cán bộ khoa học tự nhiên và xã hội. Ngày 20-5-1975, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Nghị định thành lập Viện Khoa học Việt Nam. Nhà khoa học Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ), người được Bác Hồ giác ngộ cách mạng tại Pháp năm 1946, về Việt Nam tham gia kháng chiến, được bổ nhiệm giữ chức Viện trưởng đầu tiên.
Trong công tác cán bộ và đào tạo nhân tài, Bác Phạm Văn Đồng rất chú ý đến phẩm chất con người, sự cân bằng trong mối quan hệ giữa đức và tài. Anh Trần Việt Phương kể rằng: “Những năm vừa qua, khi Bác Tô đã ngoài 90 tuổi, Bác hay nhắc lại với mấy anh em chúng tôi một lời của Bác Hồ. Bác nói: “Bác Hồ bảo xét cho cùng cái xấu trong con người là ham danh và lợi. Bao nhiêu thứ bệnh quy về đấy, bao nhiêu tác hại là do đấy”. Rồi Bác tiếp: Thật khó quá. Nhưng phải tìm mọi cách giữ cho cán bộ, đảng viên, giữ cho con người đừng mắc vào vòng tham danh lợi”(3).
Bác Phạm Văn Đồng nhắc đi nhắc lại một câu nói nổi tiếng của Bác Hồ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(4). Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tạo cho được một đội ngũ cán bộ đủ tầm làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Bác nhấn mạnh đến quan điểm của Bác Hồ về đào tạo nhân tài. Bác Hồ viết: “Muốn tránh khỏi sự hao phí nhân tài, chúng ta cần phải sửa chữa cách lãnh đạo. Thí dụ: Bắt buộc cán bộ trong mỗi ngành phải thiết thực báo cáo và cất nhắc nhân tài”(5).
Có thể rút ra một vài vấn đề theo quan điểm của Bác Phạm Văn Đồng về đào tạo, sử dụng nhân tài, cán bộ:
Một là, người lãnh đạo phải nhìn cho ra những người có năng lực và phẩm chất và những người không có năng lực và phẩm chất để xếp đặt công tác cho đúng.
Hai là, phải phân biệt được sở trường, sở đoản của cán bộ để xếp đặt vị trí quản lý và vị trí chuyên môn của họ. Trong thực tế, có người làm chuyên môn giỏi, nhưng làm quản lý kém và ngược lại.
Ba là, phải xem lời nói và việc làm của cán bộ. Có người nói hay, làm dở, có người lầm lũi ít nói, nhưng tổ chức và phân công công việc lại rất tốt. Tất nhiên, những người vừa nói hay vừa làm giỏi là những người đáng quý.
Bốn là, phải rèn cho cán bộ chăm chỉ và có óc sáng tạo trong công việc; động viên cán bộ học tập và nghiên cứu thường xuyên; yêu nghề, tận tuỵ với nghề.
Năm là, phải biết tạo ra những cán bộ kiểu mẫu, những cán bộ xuất hiện từ trong phong trào thi đua yêu nước, những cán bộ khoa học tài năng.
Sáu là, phải có phương pháp và nghệ thuật quản lý cán bộ.
Bảy là, phải có cái tâm đối với cán bộ. Cái tâm thể hiện trước hết ở sự quý trọng, lòng độ lượng, bao dung, rộng rãi, giúp đỡ, thương yêu, thân mật, sống có lý, có tình.
Xét từ quan điểm của Bác Phạm Văn Đồng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài ở nước ta vẫn còn nhiều chuyện phải bàn. Vẫn biết rằng, trong những năm chiến tranh và trong những năm đổi mới, nhiều nhân tài xuất hiện với những cống hiến đáng ghi nhận, nhưng cũng không ít những “thần đồng” bị “gãy cầu”. Tài năng của họ sớm thui chột, vì họ chưa phải là người lấy sáng tạo và cống hiến làm hạnh phúc, mà quá nặng đòi hỏi thù lao... Chủ trương về đào tạo, sử dụng nhân tài thì có, nhưng khi vận dụng thì lại chưa có quy chế, quy trình. Giáo dục của Việt Nam đang còn thấp kém so với nhiều nước. Có tài liệu thống kê, hiện nay giáo dục đại học của ta đang tụt thấp hơn 50 bậc so với đại học của Thái Lan. Có người nhận xét cách học của chúng ta từ xưa tới nay là cách học trọng khoa cử, chứ không trọng hành động. Đây là một nhược điểm lớn của giáo dục Việt Nam. Không ít vị lãnh đạo đố kỵ với những nhân tài, không coi trọng chất xám, trí tuệ, tài năng của họ.
Tôi đã có vinh dự một số lần được Bác Tô mời lên làm việc. Có lần, do tôi không biết, lại ngồi vào chiếc ghế dành riêng cho Bác Tô. Khi Bác tới, anh Trần Việt Phương khẽ nắm tay tôi bảo ngồi sang ghế khác. Bác Tô nghe vậy, nói: “Chú cứ ngồi. Ghế của tôi ai cũng có thể ngồi được”. Câu nói của Bác làm rộ lên không khí đầm ấm, chan hoà.
Tiếp xúc lần đầu với Bác Tô thật khó khăn. Bác “sát hạch” đến nơi, đến chốn. Mở đầu, Bác thường hỏi xem biết ngoại ngữ gì, nói vài câu cho Bác nghe. Sau đó hỏi về khả năng nghiên cứu và viết, vốn kiến thức về Đảng, Nhà nước, Dân tộc Việt Nam, phong trào dân chủ trên thế giới… Ai trả lời được trơn tru, Bác khen và lần sau Bác lại mời đến để giao việc. Vì vậy, mỗi lần gặp Bác là mỗi lần trình độ của chúng tôi được nâng lên. Với Bác, học và nghiên cứu là công việc suốt đời của người trí thức.
Những lần tiếp xúc với Bác Phạm Văn Đồng, tôi thấy Bác nhắc nhiều đến thơ văn của Bác Hồ, của Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều…, những danh nhân văn hoá lỗi lạc của dân tộc. Bác coi việc giữ gìn, học tập những trước tác của các danh nhân là một việc rất cần thiết.
_____
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXBCTQG, H.2002, tr.99. (2) Cuốn “Về vấn đề giáo dục - đào tạo”, NXBCTQG, H.1999. (3) Xem bài của Trần Việt Phương: “Phạm Văn Đồng trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế”, NXBCTQG, H.2002, tr.241. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, NXBCTQG, H.2002, tr.269. (5) Sđd, tr.241.
PGS.TS ĐỨC VƯỢNG