Trong
mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực
lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển
nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở
thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong
chiến lược phát triển.
Mục
tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải lựa chọn con
đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng
trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức.
Trí
thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên
môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri
thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội.
Trí
thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công
nhân và nông dân; phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ
nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau,
trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Ðội ngũ trí thức nước
ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó
với sự nghiệp cách mạng do Ðảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bằng hoạt động sáng tạo, trí thức nước ta đã
có đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy
nhiên, trí thức nước ta còn nhiều mặt hạn chế cần sớm được khắc phục để đáp ứng
yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
I-
Thực trạng đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức của Ðảng và
Nhà nước từ đổi mới (năm 1986) đến nay
1-
Sự phát triển và đóng góp của đội ngũ trí thức
Cùng
với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng,
nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta ra khỏi
khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo, phát triển đất
nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Ðội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào
xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương,
chính sách của Ðảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của
đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực
tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo
những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất
lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ
của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới.
Bộ
phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò và
khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính
trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng, trình độ quản lý của Nhà nước. Ðội
ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng
lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nhiều
trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị
trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Ða số trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn
hướng về Tổ quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực
khác nhau, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước.
2-
Công tác xây dựng đội ngũ trí thức
Trong
những năm đổi mới, Ðảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội
ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy
vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Ðảng
đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ, chính sách đối
với người Việt Nam ở nước ngoài... để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống
hiến của đội ngũ trí thức.
Nhà
nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào
tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử
dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn
vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học
và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài...
Nhìn
chung, công tác trí thức của Ðảng và Nhà nước trong những năm qua đã thể hiện
coi trọng vị trí, vai trò của trí thức, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi để đội
ngũ trí thức và các hội của trí thức hoạt động, phát triển.
3-
Những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân
Trước
yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, đội ngũ trí thức nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém.
Số
lượng và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước. Cơ
cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới
tính... Trí thức tinh hoa và hiền tài còn ít, chuyên gia đầu ngành còn thiếu
nghiêm trọng, đội ngũ kế cận hẫng hụt; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có
uy tín ở khu vực và quốc tế. Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa
xuất phát và gắn bó mật thiết với thực tiễn sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Trong
khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ở các tạp chí có uy
tín trên thế giới, số sáng chế được đăng ký quốc tế còn quá ít. Trong khoa học
xã hội và nhân văn, nghiên cứu lý luận còn thiếu khả năng dự báo và định hướng,
chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra, chưa có những công
trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược, sao chép. Trong văn hóa, văn
nghệ còn ít tác phẩm có giá trị xứng tầm với những thành tựu vẻ vang của đất
nước, sự sáng tạo và hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc; lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật còn nhiều hạn chế.
Trình
độ của trí thức ở nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học tụt hậu so với yêu
cầu phát triển đất nước và so với một số nước tiên tiến trong khu vực, nhất là
về năng lực sáng tạo, khả năng thực hành và ứng dụng, khả năng giao tiếp bằng
ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin.
Một
bộ phận trí thức, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e
ngại, sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có liên quan đến chính
trị. Một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý thức trách nhiệm và lòng tự
trọng, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực và tinh thần hợp tác.
Một số trí thức không thường xuyên học hỏi, tìm tòi, trau dồi chuyên môn nghiệp
vụ, thiếu chí khí và hoài bão. Nhiều trí thức trẻ có tâm trạng thiếu phấn khởi,
chạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn.
Những
hạn chế, yếu kém của đội ngũ trí thức do nhiều nguyên nhân. Nền kinh tế nước ta
vẫn trong tình trạng lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ còn thấp; việc áp
dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống chưa cao; thị trường khoa
học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ đang trong quá trình hình thành... Về
khách quan, chưa có đầy đủ điều kiện để phát huy hết năng lực sáng tạo của trí
thức. Một bộ phận trí thức, ở mức độ khác nhau còn chịu ảnh hưởng các mặt hạn
chế của tư tưởng phong kiến, của nền kinh tế tiểu nông và cơ chế kế hoạch hoá
tập trung, quan liêu bao cấp kéo dài, của mặt trái cơ chế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn kinh tế đang chuyển đổi.
Công
tác trí thức của Ðảng và Nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Ðến nay
vẫn chưa có chiến lược tổng thể về đội ngũ trí thức. Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội chưa thể hiện quan điểm lấy khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo làm "quốc sách hàng đầu", chưa gắn với các giải pháp phát huy vai
trò đội ngũ trí thức trên nhiều lĩnh vực. Nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng
và Nhà nước về công tác trí thức chậm đi vào cuộc sống; có nơi, có lúc thực
hiện thiếu nghiêm túc. Một số chủ trương, chính sách không sát với thực tế; có
chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng thiếu những chế tài đủ mạnh bảo đảm cho
việc thực hiện có kết quả. Nhìn chung, các chính sách đối với trí thức còn
thiếu đồng bộ, còn nặng tính hành chính và dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, chậm đổi mới.
Một
số cán bộ đảng và chính quyền chưa nhận thức đúng về vai trò, vị trí của trí
thức; đánh giá, sử dụng trí thức không đúng năng lực và trình độ, ngay cả với
những trí thức đầu ngành, dẫn đến tâm tư nặng nề trong đội ngũ trí thức. Một số
cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ chú trọng đến vốn tiền, vật chất mà chưa coi trọng
nguồn nhân lực có trình độ cao. Vẫn còn hiện tượng ngại tiếp xúc, đối thoại,
không thực sự lắng nghe, thậm chí quy chụp, nhất là khi trí thức phản biện
những chủ trương, chính sách, những đề án, dự án do các cơ quan lãnh đạo và
quản lý đưa ra.
Hệ
thống chính sách về trí thức còn thiếu và chưa phù hợp; tổ chức các hội của trí
thức ở Trung ương và địa phương chưa đủ mạnh để tập hợp trí thức. Công tác tổ
chức cán bộ, công tác quản lý, nhất là khâu đánh giá, sử dụng trí thức còn
nhiều điểm không hợp lý, thiếu chính sách và cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho
trí thức chuyên tâm cống hiến, phát triển và được xã hội tôn vinh bằng chính
kết quả hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp; thiếu những cơ chế thích hợp để phát
hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài.
Các
chủ trương, chính sách đào tạo đội ngũ trí thức chưa đồng bộ. Hệ thống giáo dục
còn lạc hậu, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân
lực trình độ cao. Thiếu chính sách đủ mạnh thu hút trí thức người Việt Nam ở
nước ngoài tham gia giải quyết những vấn đề của đất nước và tạo điều kiện để
trí thức trong nước được giao lưu, hợp tác, làm việc ở các trung tâm khoa học
và văn hóa lớn trên thế giới.
Cơ
chế và chính sách tài chính hiện hành trong các hoạt động khoa học và công
nghệ, văn hóa và văn nghệ còn nhiều bất cập, gây khó khăn, dẫn đến một số
trường hợp trí thức phải tìm cách đối phó, làm giảm chất lượng của các công
trình sáng tạo, lãng phí thời gian, công sức, tiền của, ảnh hưởng tới uy tín và
danh dự của trí thức.
Những
hạn chế, khuyết điểm trên là do sự yếu kém của một số cấp ủy đảng, chính quyền
trong lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện công tác trí thức; sự thiếu đồng bộ của
hành lang pháp lý bảo đảm môi trường dân chủ cho các hoạt động sáng tạo; những
định kiến và chủ nghĩa kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ đã dẫn đến thái độ
thiếu tin tưởng, thiếu dân chủ trong quan hệ với trí thức, thậm chí xem thường
trí thức.
II-
Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
A-
Mục tiêu
Ðến
năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và
cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang
tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Gắn
bó vững chắc giữa Ðảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Ðảng và Nhà
nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công -
nông - trí.
Trong
những năm trước mắt, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã ban hành, xây dựng cơ
chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức;
xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020.
B-
Quan điểm chỉ đạo
1-
Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến
trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây
dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ
của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất
lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu
tư cho phát triển bền vững.
2-
Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống
chính trị, trong đó trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định.
Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu
nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất
cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.
3-
Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên
cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề
nghiệp của trí thức. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất,
năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất
nước.
C-
Nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1-
Hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức
-
Ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo, văn hóa và văn nghệ; bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo điều
kiện để trí thức tự khẳng định, phát triển, cống hiến và được xã hội tôn vinh.
Tăng đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau cho các lĩnh vực nói trên, đặc biệt khuyến
khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển khoa học.
-
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường thực thi việc bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả đối với các sản phẩm sáng tạo, nhằm bảo
đảm lợi ích của trí thức khi chuyển giao phát minh, sáng kiến và khuyến khích
đội ngũ trí thức gia tăng sự cống hiến.
-
Ban hành quy định về quyền hạn, điều kiện làm việc để phát huy năng lực và
trách nhiệm của trí thức đầu ngành, các nhà khoa học và công nghệ có trình độ
cao, các tổng công trình sư trong điều hành chuyên môn, nghiệp vụ.
-
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi
và xây dựng cơ chế hoạt động, tổ chức nhiều diễn đàn để khuyến khích và bảo đảm
quyền lợi, trách nhiệm của trí thức khi tham gia các hoạt động tư vấn, phản
biện và giám định các chủ trương, chính sách, các dự án phát triển kinh tế - xã
hội. Phê phán và xóa bỏ sự coi nhẹ, thành kiến và quy chụp đối với những ý kiến
phản biện mang tính xây dựng.
-
Nhà nước đầu tư xây dựng một số khu đô thị khoa học, khu công nghệ cao, tổ hợp
khoa học - sản xuất, trường đại học trọng điểm, các trung tâm văn hóa hiện đại
để thúc đẩy hoạt động sáng tạo của trí thức trong và ngoài nước.
-
Mở rộng hợp tác và giao lưu quốc tế về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo, văn hóa và văn nghệ.
2-
Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức
-
Ðổi mới công tác cán bộ của Ðảng và Nhà nước, quy định rõ trách nhiệm của các
cơ quan quản lý trong việc tiến cử và sử dụng cán bộ là trí thức, khắc phục
tình trạng hành chính hóa, thiếu công khai, minh bạch trong các khâu tuyển
dụng, bố trí, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ quản lý. Xây dựng và thực hiện cơ chế
tạo điều kiện để trí thức phát triển bằng chính phẩm chất, tài năng và những
kết quả cống hiến của mình cho đất nước.
-
Thực hiện đúng và đầy đủ chủ trương phân cấp và quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, các trường đại học trong việc bổ nhiệm
cán bộ lãnh đạo và các chức danh khoa học trên cơ sở các tiêu chuẩn của Nhà
nước; trong việc sử dụng kinh phí, sử dụng trí thức đầu ngành theo nhu cầu của
đơn vị, nghiên cứu ban hành quy định tuổi lao động cho phù hợp.
-
Rà soát các chính sách hiện có và ban hành các cơ chế, chính sách mới bảo đảm
để trí thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá
trị từ kết quả lao động sáng tạo của mình.
-
Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các cơ chế, chính sách để động viên và tiếp
tục sử dụng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với những trí thức có trình độ cao,
năng lực và sức khỏe đã hết tuổi lao động.
-
Có chính sách ưu đãi cụ thể về lương, điều kiện làm việc, sinh hoạt... đối với
trí thức làm việc ở vùng kinh tế, xã hội khó khăn, trí thức là người dân tộc
thiểu số, người khuyết tật...; đổi mới, nâng cao chất lượng xét chọn và nâng
mức thưởng đối với các danh hiệu cao quý và các giải thưởng Nhà nước dành cho
trí thức.
-
Xây dựng chính sách thu hút, tập hợp trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước
tích cực tham gia hiến kế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao
công nghệ mới... Trọng dụng, tôn vinh những trí thức có đóng góp thiết thực,
hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế.
3-
Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức
-
Tiến hành cải cách giáo dục từ cơ cấu hệ thống đến chương trình, nội dung,
phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo đại học; thực
hiện các biện pháp gắn đào tạo với nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội.
Thực hiện tốt kiểm định chất lượng đào tạo, tăng cường vai trò của các tổ chức
kiểm định độc lập.
-
Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn đầu tư để phát triển giáo dục và đào
tạo. Thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng ở trong và ngoài
nước.
-
Tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Gắn đào tạo
đại học và sau đại học với nghiên cứu khoa học, với sản xuất kinh doanh. Xây
dựng một số trường đại học ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực và thế
giới. Tạo điều kiện để các trường đại học, viện nghiên cứu hàng đầu của các
nước phát triển đầu tư mở cơ sở đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tại
Việt Nam.
-
Thực hiện tốt việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức và triển vọng đi
đào tạo ở nước ngoài, chú trọng các chuyên ngành mà đất nước có nhu cầu bức
thiết.
-
Trên cơ sở bảo đảm chất lượng đào tạo đại trà, xây dựng cơ chế, chính sách thực
hiện có hiệu quả đào tạo tài năng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức và
phát triển nhân tài cho đất nước.
-
Có chính sách và kế hoạch cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng trí thức trẻ,
trí thức là những người đã có cống hiến trong hoạt động thực tiễn, trí thức
người dân tộc thiểu số và trí thức nữ.
-
Áp dụng chính sách định kỳ và cơ chế bảo đảm chất lượng bồi dưỡng, đào tạo lại
chuyên môn cho đội ngũ trí thức; khuyến khích trí thức thường xuyên nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn.
4-
Ðề cao trách nhiệm của trí thức, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động các
hội của trí thức
-
Xây dựng quy chế, cơ chế thông tin giúp trí thức kịp thời nắm vững các chủ
trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước và tình hình thực tiễn của đất nước và địa
phương.
-
Tăng cường sinh hoạt tư tưởng, phát huy trách nhiệm đội ngũ trí thức trong rèn
luyện, phấn đấu, bồi đắp, phát huy những phẩm chất tốt đẹp, như lòng yêu nước,
tính tích cực xã hội, tính nhân văn, đạo đức, lối sống...
-
Tạo cơ hội để trí thức tự nguyện đi đầu trong việc truyền bá những tri thức
tiến bộ trong cộng đồng, áp dụng có hiệu quả những tiến bộ đó vào sản xuất và
đời sống, góp phần thiết thực nâng cao dân trí.
-
Có cơ chế, chính sách huy động trí thức, đặc biệt là trí thức đầu ngành, trực
tiếp chăm lo và thực hiện việc đào tạo đội ngũ kế cận.
-
Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc về vị
trí, vai trò của các hội trí thức, đặc biệt là Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ
thuật, Liên hiệp các Hội Văn học và nghệ thuật, trong việc vận động, tập hợp,
đoàn kết trí thức ở trong nước và trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.
-
Củng cố, phát triển, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức
thành viên Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội
Văn học, nghệ thuật Việt Nam từ Trung ương đến địa phương, tạo môi trường lành
mạnh để phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ
trí thức.
-
Tạo điều kiện để các hội trí thức thực hiện các dịch vụ công, tham gia cấp
chứng chỉ hành nghề, giám sát hoạt động nghề nghiệp, thực hiện tự chủ về tài
chính.
5-
Nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Ðảng đối với đội ngũ trí thức
-
Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò, vị trí quan
trọng của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế; xác định công tác trí thức là nhiệm vụ quan trọng thường
xuyên của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp.
-
Làm tốt công tác tư tưởng để toàn xã hội hiểu đúng và đề cao vai trò của trí
thức; để đội ngũ trí thức nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình đối với đất
nước, dân tộc, đoàn kết phấn đấu, lao động sáng tạo, hoàn thành tốt trọng trách
trong thời kỳ mới. Hình thành ý thức và tâm lý xã hội tôn trọng, tôn vinh trí
thức, coi "hiền tài là nguyên khí của quốc gia", phát huy truyền
thống "tôn sư trọng đạo".
-
Phát huy tài năng và trọng dụng những trí thức có phẩm chất tốt, có năng lực
quản lý là đảng viên và không phải là đảng viên trong các cơ quan nhà nước và
tổ chức sự nghiệp.
-
Trong quản lý và sử dụng trí thức, các cấp ủy đảng và chính quyền nghiên cứu,
thực hiện các phương thức phù hợp, không áp dụng máy móc cách quản lý hành
chính để phát huy cao nhất năng lực cống hiến của trí thức.
-
Những người đứng đầu cấp ủy đảng và chính quyền các cấp có trách nhiệm định kỳ
tiếp xúc, lắng nghe ý kiến, đối thoại với trí thức về những vấn đề kinh tế - xã
hội quan trọng.
-
Các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở có trách nhiệm trực tiếp lãnh đạo, chỉ
đạo và kiểm tra việc thể chế hóa các nhiệm vụ và giải pháp trong Nghị quyết
thành các chính sách, chế độ, chế tài, quy chế cụ thể để thực hiện thắng lợi
Nghị quyết.
III-
Tổ chức thực hiện
1-
Các ban của Ðảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương,
các tỉnh ủy, thành ủy tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết tới cán bộ,
đảng viên; đẩy mạnh tuyên truyền trong nhân dân; có chương trình hành động cụ
thể đưa Nghị quyết vào cuộc sống.
2-
Ðảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo kịp thời thể chế hóa và
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ trí thức từ nay đến năm 2020,
đồng thời rà soát hệ thống luật pháp và các văn bản liên quan đến đào tạo, bồi
dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới
phù hợp với Nghị quyết.
Ðảng
đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban cán sự đảng Bộ Giáo dục và Ðào tạo, Bộ Khoa
học và Công nghệ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Ðảng đoàn Liên
hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Ðảng đoàn Ủy ban toàn quốc Liên
hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam và các bộ, ngành liên quan có chương
trình hành động cụ thể, tổ chức thực hiện Nghị quyết nhằm xây dựng đội ngũ trí
thức có chất lượng thuộc bộ, ngành của mình.
3-
Ban Tuyên giáo Trung ương giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư làm đầu mối hướng dẫn,
thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, định kỳ sơ kết, báo cáo tình hình và
đề xuất ý kiến bổ sung, điều chỉnh các chủ trương, giải pháp nhằm thực hiện
thắng lợi Nghị quyết.
-----------------------------------------------------
(*) Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 25-7-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.