Nhân quyền và cuộc sống
Chính sách nhất quán về tự do tôn giáo: Hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc
17:7' 3/12/2019

Việt Nam là quốc gia có đa tín ngưỡng, tôn giáo với số lượng tín đồ các tôn giáo chiếm 27% dân số. Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người luôn là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, là hạt nhân để quy tụ đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước.
Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ Vũ Chiến Thắng (bên phải) trao Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho Hội thánh Tin lành liên hiệp truyền giáo Việt Nam ngày 14-12-2018.


Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước

Ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố “Thực dân và phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương với đồng bào giáo để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”. Một năm sau, Hiến pháp năm 1946 đã ghi “Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do tín ngưỡng”. Đến Sắc lệnh 234/SL ngày 14-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy”. Các Hiến pháp sau này tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong khi thay cụm từ "quyền công dân" bằng "quyền con người", khẳng định quyền con người, trong đó là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mọi người, được Nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm.

Quan điểm trên được thể hiện trong suốt hơn 30 năm kể từ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới công tác tôn giáo và được ghi dấu bằng việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 16-10-1990 về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Sau 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24, Hội nghị Trung ương lần thứ VII (khoá IX), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW ngày 12-3-2003 về công tác tôn giáo, tiếp tục nâng cao, hoàn thiện các quan điểm về tôn giáo và công tác tôn giáo. Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, ngày 18-11-2016, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30-12-2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.



Một buổi cầu nguyện của người dân công giáo dịp năm mới.

Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu một mốc son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; là minh chứng để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ nhân quyền, tôn giáo. Sự hình thành và phát triển các tổ chức tôn giáo là minh chứng Việt Nam bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo.

Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo, trước khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2003), cả nước có khoảng 17,4 triệu tín đồ/hơn 80 triệu dân, chiếm 21,8% dân số; có 15 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận thuộc 6 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo và Hồi giáo. Sau hơn 15 năm thực hiện Pháp lệnh, đến năm 2018 có thêm 28 tổ chức tôn giáo đủ điều kiện được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và cấp đăng ký hoạt động, nâng tổng số các tổ chức tôn giáo lên 43, thuộc 16 tôn giáo.  

Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc. Cùng với phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo cũng không ngừng gia tăng. Tính đến tháng 9-2019, Việt Nam có 25,1 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, 55.710 chức sắc, 145.721 chức việc. Việc ra đời các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác, khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Các hoạt động tôn giáo đa dạng, sôi động, diễn ra trên khắp cả nước. Các cơ sở thờ tự của các tôn giáo khang trang, đời sống giáo dân sung túc. Các ngày lễ trọng, lễ hội truyền thống của tôn giáo được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia như: Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành, Đại lễ Vía Đức Chí Tôn, Lễ Thượng ngươn của đạo Cao Đài... Nhiều cơ sở tôn giáo được chính quyền quan tâm cấp phép xây dựng, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo khang trang, đáp ứng nhu cầu chính đáng về cơ sở của tín đồ và tổ chức tôn giáo. Thông qua các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội, chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, phát huy giá trị đạo đức tôn giáo và đóng góp nguồn lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đấu tranh hiệu quả với các hoạt động lợi dụng tôn giáo chia rẽ đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc và luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm tôn giáo, nhân quyền. Hoạt động đối ngoại tôn giáo là một trong những hoạt động quan trọng và thường xuyên của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam.




Thánh lễ truyền chức linh mục tại Giáo phận Kon Tum.

Trong bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập sâu vào đời sống thế giới thì hoạt động quốc tế của các tôn giáo Việt Nam cũng diễn ra đa dạng, phong phú, số lượng đoàn trong nước và nước ngoài đi, đến nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình tôn giáo ngày càng tăng. Trong năm 2018, Ban Tôn giáo Chính phủ đã giải quyết 30 đoàn ra với số lượng là 122 người, chấp thuận 62 đoàn nước ngoài vào hoạt động tôn giáo tại Việt Nam với số lượng là 511 người; tiếp đón, làm việc với nhiều đoàn quốc tế đến tìm hiểu về tôn giáo và chính sách, pháp luật về tôn giáo của Việt Nam, cụ thể: Đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Va-ti-căng; Đoàn Bộ Lễ nghi và Tôn giáo Căm-pu-chia; Đoàn Đại sứ quán Mỹ….

Hoạt động đối ngoại tôn giáo của các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam không chỉ thực hiện theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn được tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức tôn giáo nâng cao vai trò, vị thế trong hoạt động quốc tế, cũng như tạo điều kiện để các tổ chức nước ngoài có dịp tiếp cận với thực tế ở các vùng miền của Việt Nam, góp phần vào công tác bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo.

Củng cố sức mạnh nội sinh

Trước diễn biến phức tạp của vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay, cần thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, đoàn kết tôn giáo như  sau:

Thứ nhất, tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về tôn giáo và công tác tôn giáo. Các bộ, ngành và địa phương liên quan cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôn giáo. Tăng cường công tác tuyên truyền đối nội cũng như đối ngoại về hoạt động tôn giáo và chính sách tôn giáo nhất quán của Đảng và Nhà nước, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP để cán bộ, người dân và tổ chức, cá nhân tôn giáo hiểu, nâng cao nhận thức và chủ động thực hiện đúng. Bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và các chính sách, pháp luật khác có liên quan tương thích với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia, ký kết. Bảo đảm bình đẳng giữa trách nhiệm, quyền lợi của các tổ chức tôn giáo, giữa tổ chức tôn giáo và các tổ chức xã hội khác. Hạn chế để các tổ chức, cá nhân tôn giáo lợi dụng khoảng trống, sự vênh nhau giữa các luật để tìm cách xuyên tạc, hiểu sai, hoạt động sai luật, ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, an ninh chính trị.

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Hướng dẫn các tổ chức hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ đã được nhà nước công nhận và quy định của pháp luật. Xem xét, giải quyết thấu đáo các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo thuần túy của người dân trên địa bàn, phân biệt sinh hoạt tôn giáo thuần túy và việc lợi dụng tôn giáo trong giải quyết các vụ việc phức tạp để loại bỏ yếu tố chính trị cực đoan ra khỏi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Siết chặt kỷ cương, tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Lồng ghép nội dung, nhiệm vụ công tác tôn giáo với các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào tôn giáo ở địa phương. Tập trung giải quyết vấn đề nhà, đất liên quan đến tôn giáo, giải quyết dứt điểm các vụ khiếu kiện, tranh chấp đất đai có liên quan đến tôn giáo kéo dài nhiều năm tại các địa phương. Rà soát, đánh giá và quan tâm giải quyết các nhu cầu về đất đai tôn giáo chính đáng, tránh tạo cớ để các đối tượng cực đoan tụ tập tín đồ tạo điểm nóng, tuyên truyền xuyên tạc gây phức tạp về an ninh trật tự. Đẩy mạnh vận động chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động tôn giáo. Các cấp chính quyền cần thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại với chức sắc, chức việc, nhà tu hành để nắm tâm tư, nguyện vọng và kịp thời giải quyết các nhu cầu chính đáng, vấn đề phát sinh trong hoạt động tôn giáo; khích lệ họ nâng cao trách nhiệm công dân trong thực hiện chính sách, pháp luật và các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

Thứ ba, ổn định bộ máy tổ chức và đào tạo đội ngũ cán bộ thực thi chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo. Xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ phải tương xứng thì mới thực hiện tốt chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức tôn giáo, nghiệp vụ công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo. Chủ động nghiên cứu, nắm vững thông tin, kịp thời tham mưu trong công tác tôn giáo. Xây dựng cơ chế phối hợp trong công tác tôn giáo giữa các cấp, các ngành và các cơ quan trong hệ thống chính trị để nâng cao trách nhiệm trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác đối ngoại về tôn giáo, chủ động tham gia các diễn đàn tôn giáo quốc tế và khu vực. Thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế, các cuộc đối thoại song phương, đa phương để họ hiểu đúng chủ trương, chính sách tôn giáo và lên tiếng ủng hộ vấn đề nhân quyền, tự do tôn giáo của Việt Nam. Tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các hội nghị, diễn đàn quốc tế liên quan đến tôn giáo.
TS. Vũ Chiến ThắngTrưởng Ban Tôn giáo Chính phủ

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 12 - 2019
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010:
VIDEO CLIPS