Diễn đàn
Tầm nhìn xa của Đảng
10:50' 30/1/2009


 

Sau 2 năm trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn khó khăn. Để đưa đất nước phát triển, vượt qua thách thức, đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới phong cách lãnh đạo và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm là vấn đề cấp bách… Xung quanh vấn đề này chúng tôi có cuộc trao đổi với nữ chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam Phạm Chi Lan (ảnh), người luôn miệt mài với công việc, mong muốn góp phần tích cực xây dựng Đảng, cống hiến cho Đất nước. 

Thế hệ của bà rất ít phụ nữ học kinh tế, vậy cái duyên nào đưa bà đến với lĩnh vực này và trở thành một trong những chuyên gia kinh tế hàng đầu của Việt Nam?

Tôi sinh ra trong một gia đình truyền thống theo nghề giáo. Vào năm 1960-1961 khi học hết lớp 10, chuẩn bị thi đại học, nhà trường kêu gọi thanh niên không chỉ thi vào những ngành như Y, Dược mà nên đi vào cả những ngành khác. Vào thời điểm này, đất nước ta hừng hực khí thế “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng”, lớp thanh niên chúng tôi được giáo dục sống phải có lý tưởng, lựa chọn những công việc đất nước cần để góp phần phát triển kinh tế, đưa đất nước đi lên. Nghe theo tiếng gọi của Đảng, tôi chọn Trường Kinh tế tài chính, bây giờ là Đại học Kinh tế quốc dân (Hà Nội) và được phân vào khoa Quan hệ quốc tế và chuyên ngành ngoại thương.

Năm 1966, Nhà trường định giữ tôi lại làm cán bộ giảng dạy và gửi đi đào tạo thêm tại Trung Quốc. Nhưng thời điểm đó cách mạng văn hóa ở Trung Quốc nổ ra, các chương trình đào tạo của nhiều trường dừng lại. Do vậy, tôi về làm việc tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Có lẽ đây là cái duyên tôi đến với Ngành Ngoại thương!

Ở môi trường làm việc này tôi và các đồng nghiệp học được những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng về ngoại thương, kinh tế đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo rất giỏi đi trước. Trong thời chiến, tôi được phân công theo dõi thông tin cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam. Tất cả những bản tin ban đầu bằng tiếng Anh của Mỹ liên quan vấn đề kinh tế, khai thác ở Thông tấn xã Việt Nam, tôi được tiếp cận, dịch, cung cấp cho cơ quan liên quan. Trong những năm tháng đó, nhiều người làm công tác ngoại thương đã hy sinh… Những hy sinh của các anh chị, sự nỗ lực, tâm huyết của người lãnh đạo giúp tôi hiểu dù chiến tranh, ngoại thương vẫn có chỗ đứng, có điều kiện đóng góp cho chiến thắng trên chiến trường và công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.

Năm 1989, hơn 40 tuổi tôi được kết nạp vào Đảng. Một cảm giác vô cùng thiêng liêng. Tôi tự hào với danh hiệu người đảng viên, hơn 20 năm qua luôn có ý thức làm việc thật tốt để xứng đáng và góp phần tôn vinh danh hiệu đó. Là đảng viên phải luôn vươn lên. Thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường, mình càng phải gương mẫu trong công tác và học tập..., không giữ được mình trong sáng, không nâng cao trình độ sẽ rất khó thuyết phục mọi người. Do vậy khi làm việc với các doanh nghiệp, đàm phán với các đối tác, tôi luôn ý thức giữ mình ngay thẳng, trong sạch và không ngừng học hỏi. Nếu không, không làm được việc.

Gắn bó với Ngành Ngoại thương từ thời chiến, đến thời bình, bà có thể chia sẻ những kỷ niệm về bản lĩnh người đảng viên, người cán bộ làm công tác ngoại thương?

Khi đất nước thống nhất có rất nhiều khó khăn. Muốn khôi phục kinh tế không chỉ phát huy nội lực mà phải biết hợp tác với nước ngoài. Lúc này, có nhiều nước quan tâm đến công cuộc tái thiết đất nước của Việt Nam. Phòng Thương mại và Công nghiệp tiếp đón rất nhiều đoàn từ Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a, Thái Lan, Ô-trây-li-a, Anh, Đức, áo... Mỹ tuyên bố cấm vận nhưng Phòng Thương mại Mỹ (ở Hồng Kông) vẫn vào tìm hiểu thị trường Việt Nam. Lúc này các cơ quan của Việt Nam có liên quan cùng Phòng Thương mại và Công nghiệp  phối hợp trao đổi, tìm hiểu, làm việc với họ, vừa nhằm phát triển thương mại, vừa vận động, đấu tranh đòi chính phủ Mỹ bãi bỏ cấm vận kinh tế. Có nhiều đoàn nước ngoài vào Việt Nam nhưng do chưa hiểu nên thường thăm dò, thậm chí có cái nhìn sai lệch về đường lối của Đảng, Chính phủ ta. Lúc đó, tôi hiểu người làm ngoại giao là thái độ phải mềm dẻo nhưng về nội dung trao đổi phải cứng rắn. Ví như, khi họ nghi ngờ mô hình phát triển kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, tôi thẳng thắn trả lời: Các nước kinh tế thị trường đều phải có sự quản lý, điều tiết của nhà nước bằng pháp luật, chính sách... Sự quản lý của nhà nước XHCN Việt Nam nhằm phục vụ nền kinh tế phát triển lành mạnh, quan tâm đến sự phát triển của con người, của đông đảo nhân dân, phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Khi đàm phán, nhiều nước nghĩ Việt Nam không có người hiểu, không biết làm kinh tế nên đưa ra những điều khoản không công bằng. Tôi và đồng nghiệp khẳng định: Trong chiến tranh Đảng và Chính phủ Việt Nam vẫn đào tạo những người làm kinh tế với nhiều ngoại ngữ khác nhau: Nga, Trung, Pháp, Anh. Chúng tôi học kinh tế XHCN nhưng vẫn tìm hiểu về kinh tế tư bản và tôi là người được đào tạo về kinh tế trong thời chiến… Thái độ mềm dẻo, khéo léo, sự am hiểu và cách nói có lý, có tình buộc đối tác phải thay đổi thái độ, hiểu đúng thực chất, ta đàm phán thành công, bảo đảm lợi ích của chúng ta.

Bà đánh giá thế nào sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO?

Theo tôi, cái được nhiều nhất là tư duy quản lý mới và chuẩn mực kinh doanh mới hình thành, hệ thống luật pháp trong nước được cải thiện phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, môi trường kinh doanh tốt hơn. Việc thực thi các cam kết về mở cửa thị trường, minh bạch các cơ chế chính sách, không phân biệt đối xử, chỉnh sửa luật, cải cách hành chính, xóa bỏ bao cấp, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ… đã giúp nước ngoài đánh giá tốt môi trường đầu tư ở Việt Nam, do đó đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Điều dễ nhận thấy là Chính phủ đã linh hoạt hơn, động thái phản ứng nhanh hơn, quyết định dứt khoát hơn. Các doanh nghiệp, mọi thành phần kinh tế cũng năng động hẳn lên.

Tuy đạt được kết quả bước đầu nhưng chuyển biến không đồng đều và chưa tạo ra những bứt phá mới. Môi trường kinh doanh của ta theo đánh giá của nhóm Ngân hàng thế giới (WB) và Công ty Tài chính quốc tế (IFC) vào năm 2008 vẫn đứng ở mức thấp của bảng xếp hạng. Năng lực cạnh tranh của ta còn khá hạn chế. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Sự biến động của thị trường thế giới tác động rất mạnh đến thị trường trong nước, trong khi khả năng dự báo và phân tích của ta còn hạn chế. Chúng ta vẫn còn lúng túng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội… Vì vậy có lúc xử lý chậm, thiếu đồng bộ, giải quyết được mặt này thì ở mặt khác lại gây ra hiệu ứng bất lợi. Bình tĩnh nhìn nhận lại những vấn đề cơ bản của nền kinh tế và những sai sót trong chỉ đạo, điều hành là việc cần phải làm.

Năm 2009 kinh tế vẫn khó khăn, khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng tới Việt Nam. Để tăng cường năng lực cạnh tranh, tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, hoàn thiện cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển nguồn nhân lực. Song quan trọng nhất vẫn là ổn định kinh tế vĩ mô. Có ổn định mới phát triển và cạnh tranh được. Chúng ta đã xác định rõ: Tham gia WTO mở ra cả cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Cơ hội là lớn và thách thức rất nặng nề. Do vậy chúng ta phải biết biến thách thức thành cơ hội thì mới đi đến thành công.

Theo bà, vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện như thế nào trong tiến trình hội nhập ngày càng mạnh?

Thế giới phát triển rất nhanh, các nước tác động thúc đẩy lẫn nhau. Việt Nam cần tìm ra hướng đi, vị trí, thế đứng của mình. Đó là vị thế như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn là sánh vai các cường quốc năm châu. Việt Nam phải sánh vai như thế nào khi có nhiều cường quốc đã có thế đứng, vị trí? Điều đó đòi hỏi Đảng phải có tầm nhìn chiến lược để xác định hướng đi, con đường phát triển đúng đắn, khôn ngoan cho đất nước mình. Để làm việc đó cần huy động trí tuệ, sức lực của cả cộng đồng dân tộc rộng lớn, trong đó có hai tầng lớp quan trọng là doanh nhân và trí thức. Đội ngũ doanh nhân là người thực hiện các đường lối, chính sách về kinh tế, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, làm sáng rõ con đường đang phát triển. Họ có kinh nghiệm, trực tiếp tham gia vào sự phát triển kinh tế trong nước và trên thế giới, chính họ sẽ góp phần cho chủ trương, đường lối của Đảng tốt hơn. Trí thức là người nghiên cứu khoa học công nghệ, khoa học quản lý và các ngành khoa học cần thiết khác đưa vào ứng dụng và phát triển trong thực tiễn. Đảng khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí, sức sáng tạo của trí thức, doanh nhân và các tầng lớp khác tạo được sự kết nối giữa họ để khai thác tốt nhất nguồn lực của Việt Nam. Nhiều nước đánh giá con người Việt Nam: cần cù, chịu khó, học hỏi nhanh và năng động, tràn đầy sức trẻ. Đảng cần khơi dậy được tiềm lực này để đưa đất nước đi lên.

Hiện nay, Việt Nam thu hút rất mạnh đầu tư nước ngoài. Điều đó đòi hỏi Đảng, Nhà nước cân nhắc cẩn trọng lợi ích của người dân và đất nước. Nghĩa là Đảng lãnh đạo Chính phủ, các địa phương cân nhắc, đánh giá mặt lợi hại của từng dự án đầu tư, từ đó, đưa ra quyết định đúng đắn. Đảng cần có tầm nhìn xa, lãnh đạo phát triển kinh tế với tốc độ cao nhưng bền vững, đảm bảo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, an sinh xã hội, cuộc sống cho người nghèo. Đảng lắng nghe các giới, các tổ chức vì lợi ích cộng đồng để định hướng phát triển đất nước mang tầm chiến lược cho 20-30 năm sau. Từ đó định ra bước đi hợp lý, phù hợp. 20 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định: Biết dựa vào dân, khai thác thế mạnh của đất nước, chúng ta sẽ đi lên.

Một điều kiện rất cần cho đất nước phát triển bền vững là Đảng kiên quyết nói đi đôi với làm, cứng rắn xử lý tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Quan liêu, tham nhũng, tiêu cực chủ yếu xảy ra trong khu vực Nhà nước, đây là khu vực Đảng lãnh đạo trực tiếp. Những người quan liêu, tham nhũng là những người có chức, có quyền, hầu hết là cán bộ, đảng viên thoái hóa. Đảng phải giáo dục và xử lý nghiêm khắc đảng viên vi phạm. Đây cũng là cách giữ uy tín của Đảng. Chừng nào còn đảng viên quan liêu, tham nhũng chưa bị xử lý hoặc xử lý không nghiêm, nhẹ trên, nặng dưới thì công chức tiếp tục “hành dân là chính”. Nếu tình trạng quan liêu, tham nhũng, tiêu cực còn tràn lan thì đó là nguyên nhân trực tiếp không chỉ kìm hãm sự phát triển của đất nước mà còn làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng và niềm tin ở chế độ mà Đảng và Bác đã lựa chọn.

Tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước phải tiếp tục được kiện toàn tinh, gọn hơn bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy tính chủ động của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân.

Theo bà tiêu chuẩn xây dựng đội ngũ cán bộ kinh tế đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập là gì?

Đức và tài vẫn là yêu cầu cơ bản. Yêu cầu đầu tiên về tài là giỏi lĩnh vực chuyên môn được đảm nhiệm. Mọi ngành hiện nay đều phát triển với trình độ ngày càng cao, càng sâu, đòi hỏi những người làm việc phải am hiểu, có kiến thức và kỹ năng cần thiết. Do vậy, yêu cầu về chuyên môn không thể châm chước. Người có tài còn phải thể hiện khả năng học hỏi, sáng tạo trong lĩnh vực của mình, nghĩa là biết học hỏi, tìm tòi, tiếp thu cái mới, theo được cái mới. Tài cũng thể hiện là biết làm việc với mọi người, biết thích ứng, vượt qua khó khăn để hoàn thiện mình, khai thác các điều kiện chủ quan và khách quan để phát huy.

Đức là gốc. Điểm quan trọng nhất là mỗi người biết giữ phẩm giá của con người. Người có đức sống phải đàng hoàng, vì mình và vì cộng đồng.

Người làm kinh doanh phải có đạo đức và đạo đức kinh doanh. Kinh doanh phải có lợi nhuận nhưng lợi nhuận phải được xã hội công nhận, không làm tổn hại lợi ích của xã hội, người khác. Người kinh doanh có cạnh tranh nhưng phải bằng tài kinh doanh, bằng đạo đức của con người và đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức kinh doanh là chia sẻ lợi ích cho người lao động: Lương, môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến. Đạo đức kinh doanh là nghiêm túc tuân thủ pháp luật, chăm lo lợi ích của cộng đồng, không tham nhũng, hối lộ, không phá hủy môi trường… Đạo đức còn thể hiện ở văn hóa kinh doanh. Nghĩa là các doanh nghiệp làm việc có văn hóa, nền nếp, có lý tưởng, vì cuộc sống của con người, sự phát triển của đất nước, cộng đồng. Cần làm cho đạo đức thấm nhuần trong giới kinh doanh, nếu không sẽ mất uy tín, danh dự, phương hại cộng đồng và đất nước...

Xây dựng đội ngũ cán bộ kinh tế đủ đức, tài là yêu cầu tất yếu. Chúng ta phải có chiến lược trong xây dựng đội ngũ cán bộ này.

Nhân dịp xuân mới, kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Đảng, bà có thể chia sẻ cảm xúc, mong muốn với bạn đọc Tạp chí?

Mùa xuân mới đã tới. Đất nước ta sẽ tiếp tục một cuộc hành trình mới trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng trên toàn cầu, nên tôi mong Đảng, Nhà nước ta phát huy sức mạnh, trí tuệ, sự sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, cán bộ, đảng viên Việt Nam để vượt qua khó khăn và phát triển.

Theo tôi, cuộc khủng hoảng vừa là thách thức lớn, vừa là cơ hội cho các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhiều đảng viên, nhiều người dân trong nước cũng như bạn bè nước ngoài tin tưởng: Nếu Việt Nam biết vượt qua thách thức, tạo bước đột phá mới, táo bạo thì chúng ta sẽ vượt qua chính mình, tạo sức bật mới đưa nền kinh tế phát triển và hội nhập thành công với khu vực và thế giới… Khát vọng này là của một đảng viên, song tôi nghĩ cũng là khát vọng của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Cho nên, lúc này hơn bao giờ hết cần sự lãnh đạo sáng suốt, quyết đoán của Đảng, biết nhìn nhận yếu kém, vượt qua yếu kém, khai thác cái tốt và sức mạnh của cả dân tộc để đưa Việt Nam đi lên.

Xin cảm ơn bà, chúc bà năm mới dồi dào sức khỏe, tiếp tục có nhiều đóng góp cho Đảng, cho Dân.

Trần Thu Thủy (thực hiện)
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 7 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS