Diễn đàn
Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
16:52' 16/4/2009


Khái niệm và những tiêu chí của người trí thức.

Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 4, trang 582) định nghĩa trí thức là “tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ phận chủ yếu có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh. Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ, v v...  trí thức nói chung, thường nhạy cảm với cái mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay”.

Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu trí thức là những người lao động trí óc, trong đó có các nhà khoa học lớn có phát minh, sáng chế. Do sáng tạo, nên họ nhạy cảm với cái mới, tiếp thu dễ dàng những tư tưởng tiến bộ, có vai trò lớn đối với lịch sử. Khác với tất cả các tầng lớp lao động khác trong xã hội, trí thức có tài sản vô giá là chất xám - trí tuệ. Tài sản này được nhân lên nhanh chóng rất nhiều lần, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu biết phát huy, khai thác, sử dụng.

ở nước ta chưa thể nói về giải thưởng Nô-ben hay Phin để so sánh với trí thức thế giới, mà cần đề cập vấn đề dưới góc độ khác. Đó là một số tiêu chuẩn đạo lý tinh thần mà ta thường thấy trong một số trí thức lớn của ta và các trí thức bậc thầy trên thế giới:

- Trung thực với lương tâm mình;

-  Biết đau với nỗi đau của người và vui với nỗi vui của người;

- Dấn thân trong công việc, nhất là những công việc dài hơi đòi hỏi sự hy sinh cá nhân;

- Có can đảm chịu trách nhiệm việc mình làm;

- Biết nghe và khoan dung trước sự khác biệt về ý kiến, có tinh thần học hỏi, khiêm tốn, hoà nhã;

- Quan tâm, suy nghĩ về các vấn đề chung của nhân loại, đóng góp thiết thực vào những vấn đề của đất nước;

- Không ham địa vị và tiền bạc;

- Sống giản dị, tiết kiệm và biết chia sẻ với người gặp khó khăn.

Các tiêu chuẩn đạo lý trên được tôi luyện trong con người của trí thức vì bản chất công việc sáng tạo của họ đòi hỏi họ và đồng nghiệp phải xây dựng, vun đắp môi trường tinh thần như vậy để làm việc có hiệu quả. Tuy vậy, không phải những phẩm chất, tiêu chuẩn hình thành từ một phía người trí thức, mà cần có môi trường xã hội, văn hóa và cơ chế dân chủ để chúng phát triển.

Vai trò của trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

ở đây lại có một câu hỏi: Trí thức có phải là động lực quyết định? Khắp thế giới đều nói: Cuộc chạy đua đến sự giàu sang của các nước là cuộc chạy đua về khoa học, hay thực chất là cuộc đua về giáo dục. Nước nào đào tạo được nhiều nhà khoa học, kỹ sư và nhà toán học giỏi thì nước đó nắm được chìa khóa của sự phồn vinh. ấn Độ là một nước không có tài nguyên, đông dân, nhiều người nghèo. Nhưng những gì ấn Độ đã bứt lên được trong hai chục năm qua đã làm thế giới thán phục. Họ đã đi lên bằng những dịch vụ càng ngày càng có giá trị với một đội ngũ trí thức là những nhà quản lý, những kỹ sư, những kỹ thuật viên có tay nghề cao. Tôi đã dự một hội nghị quốc tế ở Mum-bai (ấn Độ) mà người điều khiển và thư ký là một người đàn ông và một cô gái ấn Độ được hội nghị thuê để làm việc đó. Họ đến hội nghị trước hai hôm từ một tỉnh khác ở ấn Độ và bắt đầu công việc bằng cách nghiên cứu kỹ các vấn đề sẽ đưa ra thảo luận trong hội nghị. Họ khai mạc và điều khiển hội nghị như thể họ là người tổ chức hội nghị. Ngoài tiếng Anh, họ còn nói được tiếng Pháp và có trời mà biết họ còn nói được tiếng gì nữa. Bế mạc hội nghị, họ lại khăn gói lên đường, nói với ban tổ chức hội nghị là sẽ gửi bản tranh luận của các đại biểu dự hội nghị trong vài ngày sau. Ban tổ chức nói với tôi rằng, điều khiển hội nghị thì không khó đối với họ, nhưng để biên tập các ý kiến của hội nghị thì rất mất công, nên họ quyết định thuê người ấn Độ làm việc đó. Càng ngày người ấn Độ càng đưa ra, đề xuất với thế giới những dịch vụ mà thế giới phải bất ngờ. Tất nhiên làm những dịch vụ như thế, người ấn Độ kiếm được nhiều tiền hơn chúng ta gửi nhân công đi làm thuê ở nước ngoài và họ cũng học hỏi được nghệ thuật quản lý của các nước giàu trong thời kỳ toàn cầu hóa để làm cho chính nước họ, chứ không phải làm thuê mãi mãi. Điều tất nhiên nữa là họ đã phát triển tốt giáo dục của họ để có nhiều người học, từ đó phát hiện được nhiều người tài và cơ bản là biết sử dụng người tài.

Để đội ngũ trí thức đóng góp cho đất nước nhiều hơn nữa trong thời kỳ đổi mới.

Muốn đóng góp có hiệu quả, người trí thức cần được đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện, môi trường phát triển và cống hiến.

Đã có câu hỏi cụ thể: Tại sao ta chưa có tổng công trình sư lớn, những đề án khoa học lớn? Câu trả lời có thể như sau: Ta chưa có nền sản xuất lớn lâu năm và kèm với nó là truyền thống nghiên cứu khoa học lâu đời để tạo ra những công trình sư lớn hay những đề án khoa học lớn. Xin đưa ra hai ví dụ.

1. Suốt thời sinh viên ở Pháp, tôi sống trong một gia đình chế tạo máy bay. Chú ruột tôi, rồi vợ chú tôi là kỹ sư máy bay. Nhà máy chế tạo máy bay ở gần nhà chú tôi. Nó là Nhà máy chế tạo máy bay lớn nhất Tây Âu. Nghĩa là các bộ phận chính được sản xuất tại đây, chỉ một số bộ phận nhỏ được làm ở Anh, Đức, ý rồi chuyển về xưởng để lắp thành máy bay. Các máy bay tên tuổi như Concorde, Airbus ra đời ở đây. Phi công bay thử máy bay đầu tiên xuất xưởng cũng xuất phát từ sân bay bên cạnh nhà máy. Chú tôi, khi mới tốt nghiệp trường kỹ sư hàng không, đã về làm ngay tại xưởng. Năm đầu, ông được giao việc tính toán một ô của cánh máy bay. Ai đi máy bay, ngồi cạnh cửa sổ sát cánh máy bay cũng thấy nó có nhiều ô, người ta làm từng ô một rồi ráp lại thành cánh. Năm sau, ông lại được giao tính toán ô khác. Cứ như vậy, ông tiến tới tính toán toàn thể cánh máy bay. Thành thạo với cánh máy bay, ông được chuyển sang tính bộ phận khác của máy bay. Tới một ngày, ông biết tính toàn thể các bộ phận của máy bay. Vì trong quá trình tính toán nhiều năm, ông không mắc sai lầm, ông được lên chức trưởng phòng tính toán, trông nom toàn bộ tính toán của các kỹ sư. Sau 15 năm làm việc, ông lên chức, được giao việc phụ trách nhiều phòng của sản xuất bao gồm cả phòng tính toán. Cuối cùng, do có nhiều ý kiến sáng tạo để cho ra đời những máy bay càng ngày càng nhanh, tiết kiệm nhiên liệu, tiện nghi, cạnh tranh được với Boeing của Mỹ, ông trở thành kỹ sư trưởng. Là sinh viên thời đó, tôi biết ông thường xuyên gặp cố vấn khoa học là những giáo sư đại học, mà có người đang là thầy dạy của tôi, để tìm lời giải cho những bài toán không kinh điển mà trong quá trình tính toán máy bay các kỹ sư của ông gặp phải. Ông đi gặp sinh viên sắp tốt nghiệp để tìm và hứa cho học bổng những ai muốn làm luận án tiến sĩ với đề tài mà các máy bay với tốc độ siêu âm đặt ra. Và tất nhiên, học bổng sẽ rất cao so với học bổng của trường đại học vì vấn đề thiết thực và cấp bách cho một máy bay mới ra đời. Thời kỳ này, ông cũng đi gặp nhiều kỹ sư trưởng trên thế giới. Ông đã từng gặp cặp kỹ sư nổi tiếng thế giới vì hàng loạt máy bay mang tên họ, đó là bố con Tu-pô-lép của Liên xô. Tính ít nói, nhưng ông đã không tiếc lời ca tụng hai bố con Tu-pô-lép, nhất là người con.

Qua ví dụ này, ta thấy sản xuất kết hợp nhuần nhuyễn với nghiên cứu, với đại học như các bộ phận của một cơ thể. ở ta chưa có nền sản xuất lâu năm và lớn như vậy. Nền sản xuất nhỏ của ta chưa thể đào tạo ra được những tổng công trình sư. Hơn nữa, quá trình đào tạo trong đại học tách rời nhu cầu thực tế, học không đi đôi với hành nên sinh viên ra trường chưa thể bắt tay ngay vào giải quyết công việc.

2. Câu chuyện về các đề án khoa học lớn cũng vậy. Một đề án khoa học lớn thường xuất phát từ một viện nghiên cứu có tên tuổi lâu năm trên thế giới. Khi thực hiện đề án, họ viết rõ ràng mục tiêu nghiên cứu, các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới được mời tham gia, rồi họ gọi thầu. Tôi đã chứng kiến vừa rồi một đề án kiểu như vậy, được cơ quan Nasa Mỹ cấp 400 triệu đôla, Liên minh châu Âu 45 triệu đôla và nước Pháp 5 triệu đôla. Có được tiền và thực hiện đề án xong, các thành viên phải công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học có uy tín đầu bảng của thế giới để cộng đồng khoa học quốc tế kiểm tra và hưởng thành quả nghiên cứu khoa học của họ. Hiện giờ ta làm các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp nhà nước phần lớn để có tiền bù vào lương. Làm xong, hội đồng nghiệm thu nào cũng đánh giá là khá, thậm chí xuất sắc. Nhưng rồi đa số cũng chỉ để xếp vào hồ sơ lưu trữ và để trình hội đồng phong giáo sư!

Do xuất phát và đến nay vẫn chưa thoát khỏi nền sản xuất nhỏ, nên ta còn có nhiều khó khăn để xây dựng đội ngũ trí thức có nhiều nhà khoa học lớn với các giải thưởng quốc tế. Tuy nhiên, từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công, không ít nhà trí thức theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà đã từ bỏ con đường nghiên cứu ở những đất nước tiên tiến trở về và có đóng góp không nhỏ trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà.

Nghị quyết Trung ương sắp tới sẽ đề cập tới việc xây dựng một đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là một vấn đề cấp bách cần phải làm, nhưng phải làm với một tư duy đổi mới, mạnh dạn và can đảm, cho họ cơ chế làm việc đúng với bản chất lao động của người trí thức - sự xả thân không tiếc sức cho sự đam mê và sáng tạo - đề ra một chương trình thiết thực, đã nói là làm, đem lại niềm tin cho trí thức. Ngoài vị trí xã hội và điều kiện vật chất cần thiết để các nhà khoa học làm việc hiệu quả, họ còn cần một môi trường lành mạnh với những nguyên tắc đạo lý cơ bản cho tinh thần khoa học: Sự trung thực, tự do sáng tạo và dân chủ. Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh rằng các nguyên tắc đạo lý đó gắn liền với trí thức và là cần thiết cho việc xây dựng một đất nước phồn vinh, cuộc sống bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc
GS. TSKH Hoàng Xuân Sính
Đại học Thăng Long
Bài cùng chuyên mục
Tầm nhìn xa của Đảng    (30/1/2009)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS