Khái niệm và những
tiêu chí của người trí thức.
Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 4, trang 582)
định nghĩa trí thức là “tầng lớp xã hội làm nghề lao động trí óc, trong đó, bộ
phận chủ yếu có học vấn cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng
tạo và phát minh. Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy
giáo, thầy thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sĩ, v v... trí thức nói chung, thường nhạy cảm với cái
mới, tiếp thu và truyền bá những tư tưởng cách mạng, tiến bộ trong nhân dân, có
vai trò rất lớn đối với sự phát triển lịch sử, nhất là trong thời đại cách mạng
khoa học kỹ thuật hiện nay”.
Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu trí thức
là những người lao động trí óc, trong đó có các nhà khoa học lớn có phát minh,
sáng chế. Do sáng tạo, nên họ nhạy cảm với cái mới, tiếp thu dễ dàng những tư
tưởng tiến bộ, có vai trò lớn đối với lịch sử. Khác với tất cả các tầng lớp lao
động khác trong xã hội, trí thức có tài sản vô giá là chất xám - trí tuệ. Tài
sản này được nhân lên nhanh chóng rất nhiều lần, tác động mạnh mẽ đến sự phát
triển kinh tế - xã hội nếu biết phát huy, khai thác, sử dụng.
ở nước ta chưa thể nói về giải thưởng Nô-ben
hay Phin để so sánh với trí thức thế giới, mà cần đề cập vấn đề dưới góc độ
khác. Đó là một số tiêu chuẩn đạo lý tinh thần mà ta thường thấy trong một số
trí thức lớn của ta và các trí thức bậc thầy trên thế giới:
- Trung thực với lương tâm mình;
- Biết
đau với nỗi đau của người và vui với nỗi vui của người;
- Dấn thân trong công việc, nhất là những
công việc dài hơi đòi hỏi sự hy sinh cá nhân;
- Có can đảm chịu trách nhiệm việc mình làm;
- Biết nghe và khoan dung trước sự khác biệt
về ý kiến, có tinh thần học hỏi, khiêm tốn, hoà nhã;
- Quan tâm, suy nghĩ về các vấn đề chung của
nhân loại, đóng góp thiết thực vào những vấn đề của đất nước;
- Không ham địa vị và tiền bạc;
- Sống giản dị, tiết kiệm và biết chia sẻ với
người gặp khó khăn.
Các tiêu chuẩn đạo lý trên được tôi luyện
trong con người của trí thức vì bản chất công việc sáng tạo của họ đòi hỏi họ
và đồng nghiệp phải xây dựng, vun đắp môi trường tinh thần như vậy để làm việc
có hiệu quả. Tuy vậy, không phải những phẩm chất, tiêu chuẩn hình thành từ một
phía người trí thức, mà cần có môi trường xã hội, văn hóa và cơ chế dân chủ để
chúng phát triển.
Vai trò của trí thức Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.
ở đây lại có một câu hỏi: Trí thức có phải là
động lực quyết định? Khắp thế giới đều nói: Cuộc chạy đua đến sự giàu sang của
các nước là cuộc chạy đua về khoa học, hay thực chất là cuộc đua về giáo dục.
Nước nào đào tạo được nhiều nhà khoa học, kỹ sư và nhà toán học giỏi thì nước đó
nắm được chìa khóa của sự phồn vinh. ấn Độ là một nước không có tài nguyên,
đông dân, nhiều người nghèo. Nhưng những gì ấn Độ đã bứt lên được trong hai
chục năm qua đã làm thế giới thán phục. Họ đã đi lên bằng những dịch vụ càng
ngày càng có giá trị với một đội ngũ trí thức là những nhà quản lý, những kỹ
sư, những kỹ thuật viên có tay nghề cao. Tôi đã dự một hội nghị quốc tế ở
Mum-bai (ấn Độ) mà người điều khiển và thư ký là một người đàn ông và một cô
gái ấn Độ được hội nghị thuê để làm việc đó. Họ đến hội nghị trước hai hôm từ
một tỉnh khác ở ấn Độ và bắt đầu công việc bằng cách nghiên cứu kỹ các vấn đề
sẽ đưa ra thảo luận trong hội nghị. Họ khai mạc và điều khiển hội nghị như thể
họ là người tổ chức hội nghị. Ngoài tiếng Anh, họ còn nói được tiếng Pháp và có
trời mà biết họ còn nói được tiếng gì nữa. Bế mạc hội nghị, họ lại khăn gói lên
đường, nói với ban tổ chức hội nghị là sẽ gửi bản tranh luận của các đại biểu
dự hội nghị trong vài ngày sau. Ban tổ chức nói với tôi rằng, điều khiển hội
nghị thì không khó đối với họ, nhưng để biên tập các ý kiến của hội nghị thì
rất mất công, nên họ quyết định thuê người ấn Độ làm việc đó. Càng ngày người
ấn Độ càng đưa ra, đề xuất với thế giới những dịch vụ mà thế giới phải bất ngờ.
Tất nhiên làm những dịch vụ như thế, người ấn Độ kiếm được nhiều tiền hơn chúng
ta gửi nhân công đi làm thuê ở nước ngoài và họ cũng học hỏi được nghệ thuật
quản lý của các nước giàu trong thời kỳ toàn cầu hóa để làm cho chính nước họ,
chứ không phải làm thuê mãi mãi. Điều tất nhiên nữa là họ đã phát triển tốt
giáo dục của họ để có nhiều người học, từ đó phát hiện được nhiều người tài và
cơ bản là biết sử dụng người tài.
Để đội ngũ trí thức
đóng góp cho đất nước nhiều hơn nữa trong thời kỳ đổi mới.
Muốn đóng góp có hiệu quả, người trí thức cần
được đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện, môi trường phát triển và cống hiến.
Đã có câu hỏi cụ thể: Tại sao ta chưa có tổng
công trình sư lớn, những đề án khoa học lớn? Câu trả lời có thể như sau: Ta
chưa có nền sản xuất lớn lâu năm và kèm với nó là truyền thống nghiên cứu khoa
học lâu đời để tạo ra những công trình sư lớn hay những đề án khoa học lớn. Xin
đưa ra hai ví dụ.
1. Suốt thời sinh viên ở Pháp, tôi sống trong
một gia đình chế tạo máy bay. Chú ruột tôi, rồi vợ chú tôi là kỹ sư máy bay.
Nhà máy chế tạo máy bay ở gần nhà chú tôi. Nó là Nhà máy chế tạo máy bay lớn
nhất Tây Âu. Nghĩa là các bộ phận chính được sản xuất tại đây, chỉ một số bộ
phận nhỏ được làm ở Anh, Đức, ý rồi chuyển về xưởng để lắp thành máy bay. Các
máy bay tên tuổi như Concorde, Airbus ra đời ở đây. Phi công bay thử máy bay
đầu tiên xuất xưởng cũng xuất phát từ sân bay bên cạnh nhà máy. Chú tôi, khi
mới tốt nghiệp trường kỹ sư hàng không, đã về làm ngay tại xưởng. Năm đầu, ông
được giao việc tính toán một ô của cánh máy bay. Ai đi máy bay, ngồi cạnh cửa
sổ sát cánh máy bay cũng thấy nó có nhiều ô, người ta làm từng ô một rồi ráp
lại thành cánh. Năm sau, ông lại được giao tính toán ô khác. Cứ như vậy, ông
tiến tới tính toán toàn thể cánh máy bay. Thành thạo với cánh máy bay, ông được
chuyển sang tính bộ phận khác của máy bay. Tới một ngày, ông biết tính toàn thể
các bộ phận của máy bay. Vì trong quá trình tính toán nhiều năm, ông không mắc
sai lầm, ông được lên chức trưởng phòng tính toán, trông nom toàn bộ tính toán
của các kỹ sư. Sau 15 năm làm việc, ông lên chức, được giao việc phụ trách
nhiều phòng của sản xuất bao gồm cả phòng tính toán. Cuối cùng, do có nhiều ý
kiến sáng tạo để cho ra đời những máy bay càng ngày càng nhanh, tiết kiệm nhiên
liệu, tiện nghi, cạnh tranh được với Boeing của Mỹ, ông trở thành kỹ sư trưởng.
Là sinh viên thời đó, tôi biết ông thường xuyên gặp cố vấn khoa học là những
giáo sư đại học, mà có người đang là thầy dạy của tôi, để tìm lời giải cho
những bài toán không kinh điển mà trong quá trình tính toán máy bay các kỹ sư
của ông gặp phải. Ông đi gặp sinh viên sắp tốt nghiệp để tìm và hứa cho học
bổng những ai muốn làm luận án tiến sĩ với đề tài mà các máy bay với tốc độ
siêu âm đặt ra. Và tất nhiên, học bổng sẽ rất cao so với học bổng của trường
đại học vì vấn đề thiết thực và cấp bách cho một máy bay mới ra đời. Thời kỳ
này, ông cũng đi gặp nhiều kỹ sư trưởng trên thế giới. Ông đã từng gặp cặp kỹ
sư nổi tiếng thế giới vì hàng loạt máy bay mang tên họ, đó là bố con Tu-pô-lép
của Liên xô. Tính ít nói, nhưng ông đã không tiếc lời ca tụng hai bố con
Tu-pô-lép, nhất là người con.
Qua ví dụ này, ta thấy sản xuất kết hợp nhuần
nhuyễn với nghiên cứu, với đại học như các bộ phận của một cơ thể. ở ta chưa có
nền sản xuất lâu năm và lớn như vậy. Nền sản xuất nhỏ của ta chưa thể đào tạo
ra được những tổng công trình sư. Hơn nữa, quá trình đào tạo trong đại học tách
rời nhu cầu thực tế, học không đi đôi với hành nên sinh viên ra trường chưa thể
bắt tay ngay vào giải quyết công việc.
2. Câu chuyện về các đề án khoa học lớn cũng
vậy. Một đề án khoa học lớn thường xuất phát từ một viện nghiên cứu có tên tuổi
lâu năm trên thế giới. Khi thực hiện đề án, họ viết rõ ràng mục tiêu nghiên
cứu, các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới được mời tham gia, rồi
họ gọi thầu. Tôi đã chứng kiến vừa rồi một đề án kiểu như vậy, được cơ quan
Nasa Mỹ cấp 400 triệu đôla, Liên minh châu Âu 45 triệu đôla và nước Pháp 5
triệu đôla. Có được tiền và thực hiện đề án xong, các thành viên phải công bố
kết quả nghiên cứu trên các tạp chí khoa học có uy tín đầu bảng của thế giới để
cộng đồng khoa học quốc tế kiểm tra và hưởng thành quả nghiên cứu khoa học của
họ. Hiện giờ ta làm các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp nhà nước phần
lớn để có tiền bù vào lương. Làm xong, hội đồng nghiệm thu nào cũng đánh giá là
khá, thậm chí xuất sắc. Nhưng rồi đa số cũng chỉ để xếp vào hồ sơ lưu trữ và để
trình hội đồng phong giáo sư!
Do xuất phát và đến nay vẫn chưa thoát khỏi
nền sản xuất nhỏ, nên ta còn có nhiều khó khăn để xây dựng đội ngũ trí thức có
nhiều nhà khoa học lớn với các giải thưởng quốc tế. Tuy nhiên, từ khi Cách mạng
Tháng Tám thành công, không ít nhà trí thức theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh mà đã từ bỏ con đường nghiên cứu ở những đất nước tiên tiến trở về và có
đóng góp không nhỏ trong công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước
nhà.
Nghị quyết Trung ương sắp tới sẽ đề cập tới việc xây
dựng một đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập
kinh tế quốc tế. Đó là một vấn đề cấp bách cần phải làm, nhưng phải làm với một
tư duy đổi mới, mạnh dạn và can đảm, cho họ cơ chế làm việc đúng với bản chất
lao động của người trí thức - sự xả thân không tiếc sức cho sự đam mê và sáng
tạo - đề ra một chương trình thiết thực, đã nói là làm, đem lại niềm tin cho
trí thức. Ngoài vị trí xã hội và điều kiện vật chất cần thiết để các nhà khoa
học làm việc hiệu quả, họ còn cần một môi trường lành mạnh với những nguyên tắc
đạo lý cơ bản cho tinh thần khoa học: Sự trung thực, tự do sáng tạo và dân chủ.
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh rằng các nguyên tắc đạo lý đó gắn liền
với trí thức và là cần thiết cho việc xây dựng một đất nước phồn vinh, cuộc
sống bình đẳng, tự do, ấm no, hạnh phúc
GS. TSKH Hoàng Xuân Sính
Đại học Thăng Long