Diễn đàn
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam khởi đầu từ nghị quyết Trung ương về công tác tổ chức
13:49' 25/1/2007


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của 20 năm đổi mới đất nước cùng những bài học kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới theo đường lối đổi mới toàn diện, lấy đổi mới kinh tế làm trung tâm của Đại hội VI. Những thành tựu và bài học kinh nghiệm ấy được Đảng và nhân dân ta nhất trí cao, được bạn bè trên thế giới hoan nghênh và ủng hộ.

Trong bài này tôi chỉ đề cập một vấn đề liên quan đến đổi mới về kinh tế gắn liền với đổi mới công tác tổ chức xây dựng đảng. Từ đó, rút ra kết luận cần thiết và một vài kinh nghiệm khái quát nhất về cái mốc khởi đầu của đổi mới kinh tế ở nước ta gắn liền với đổi mới tổ chức trước thời kỳ 20 năm đổi mới đất nước.

Ngày 27-7-1978, Hội nghị Trung ương 4 (khóa IV) đã ra Nghị quyết về “kiện toàn tổ chức, cải tiến chế độ làm việc đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới”. Nghị quyết này tuy là một nghị quyết về công tác tổ chức nhưng đã đặt vấn đề: Muốn đổi mới công tác tổ chức có hiệu quả trước hết phải đổi mới về kinh tế. Nghị quyết đã được ban hành trên 30 năm, nhưng gần đây có nhiều tác giả khi nghiên cứu vấn đề đổi mới về kinh tế chỉ nghiên cứu, đọc nghị quyết về kinh tế, chưa đọc hoặc chưa nghiên cứu kỹ một số nghị quyết về tổ chức, xây dựng Đảng có liên quan đến đổi mới kinh tế, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa IV) - cột mốc đánh dấu sự khởi đầu của đổi mới về kinh tế ở nước ta. Do đó, đã có những suy luận không đúng về quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam trước Đại hội VI của Đảng.

Tôi nghĩ, các nội dung được trình bày trong các bài nói, bài viết của một số tác giả là một sơ suất không đáng có, trái với thực tế lịch sử của Đảng ta cần được khẳng định lại. Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) chính là một cột mốc lịch sử mở đầu của đổi mới về kinh tế ở nước ta. Toàn bộ Nghị quyết này của Trung ương nói về kinh tế và về tổ chức là nhằm xóa bỏ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp; Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư, Quyết định 25/CP của Chính phủ đều xuất phát từ các chủ trương bảo đảm ba lợi ích; phát huy tính chủ động trong sản xuất, kinh doanh, thực hiện quyền tự chủ về tài chính, các đơn vị kinh tế cơ sở đã được đề cập trong Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV).

Để có sự nhất trí về các cột mốc lịch sử về đổi mới kinh tế, xin trình bày dưới đây một số quan điểm và giải pháp cơ bản về đổi mới về kinh tế và đổi mới về tổ chức nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 (khóa IV) từ đó rút ra vài bài học quý giá về công tác tổ chức của Đảng.

I. Một số quan điểm và giải pháp cơ bản về đổi mới kinh tế và tổ chức chống tập trung quan liêu bao cấp trong Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV).

1. Từ phân tích nguyên nhân kém hiệu lực của bộ máy dẫn đến đề xuất phải đổi mới toàn diện và cơ bản về kinh tế.

Hội nghị TƯ 4 (khóa IV) tháng 7-1978, lần đầu tiên kể từ năm 1975 rất coi trọng đổi mới kinh tế theo tư duy mới làm cơ sở để giải quyết các vấn đề tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý xuất phát từ nhận định: “Do chưa nắm vững quy luật kinh tế và khoa học tổ chức nên bộ máy của chúng ta kém hiệu lực…” từ đó đã chỉ ra yêu cầu: “Cần đổi mới sâu sắc quan điểm về xây dựng tổ chức, đổi mới cách chỉ đạo…” và chỉ rõ: “Về kinh tế, bộ máy lãnh đạo và quản lý phải xuất phát từ những đòi hỏi của việc xây dựng cơ cấu kinh tế mới (ngành, địa phương, cơ sở) và phương thức quản lý kinh tế mới, phải phát huy tác dụng tích cực đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế mới và phương thức quản lý mới, đủ sức vận dụng phương thức quản lý mới”. Việc đổi mới tổ chức theo tinh thần đó phải quay xung quanh vấn đề đổi mới kinh tế.

2. Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đi từ xác lập quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, quyền tự chủ về tài chính của đơn vị kinh tế cơ sở.

Sau khi đề ra yêu cầu, phương hướng chung, Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) đề cập ngay đến vấn đề vị trí, tầm quan trọng của đơn vị kinh tế cơ sở đối với nền kinh tế quốc dân; đối với quyền làm chủ của nhân dân, tiến hành ba cuộc cách mạng đối với việc sử dụng thiết bị, vật tư, tiền vốn, chống tham ô, lãng phí, đối với việc kết hợp hài hòa ba lợi ích (quyền lợi của “cả nước”, của “tập thể và cá nhân từng người lao động”). Nghị quyết đặc biệt đi sâu vào vấn đề quyền tự chủ về tài chính và trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở như sau:

“Các cơ sở phải thực hiện cho được hạch toán kinh tế, sản xuất, kinh doanh có lãi, hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, phát triển phúc lợi tập thể, tăng nguồn vốn tự có để tái sản xuất mở rộng”. “Trên cơ sở bảo đảm hoàn thành kế hoạch nhà nước, cơ sở có quyền đặt quan hệ trực tiếp với các đơn vị cơ sở khác bằng những hợp đồng về phân công hợp tác sản xuất, về cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm, về vận chuyển hàng hóa, về đào tạo công nhân, về áp dụng và nghiên cứu khoa học kỹ thuật”.

Nguyên tắc bảo đảm quyền tự chủ về tài chính, về sản xuất, kinh doanh có lãi được đặt trong quan hệ với các cơ sở khác bằng hợp đồng về các mặt… trong Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) chính là cơ sở đầu tiên để bảo đảm cho nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế mới theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, vận động theo cơ chế thị trường của nền sản xuất hàng hóa, đúng với quy luật.

Cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp khác với cơ chế mới về nguyên tắc như sau:

a) Cơ chế cũ được đặt ra trong quan hệ cấp phát vật tư, giao nộp sản phẩm do cấp trên giao, cân đối xếp đặt trực tiếp với giá cả do cấp trên quyết định. Vì vậy, tình trạng “mua như cướp, bán như cho” đã xảy ra.

Cơ chế mới theo Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) được đặt ra trong quan hệ mua bán theo giá kinh doanh được định trước thị trường trong nước và quốc tế với tư cách là người sản xuất hàng hóa, người kinh doanh XHCN bằng các hợp đồng.

b) Trong cơ chế cũ, kế hoạch là pháp lệnh, cấp trên quyết định, mang tính chất hành chính với kỷ luật là kỷ luật chấp hành lệnh của cấp trên.

Trong cơ chế mới thì kế hoạch được cân đối phân cấp, phân quyền trên cơ sở hợp đồng kinh tế, kỷ luật chấp hành là kỷ luật kinh tế - pháp lệnh của hợp đồng kinh tế.

c) Trong cơ chế cũ, đơn vị kinh tế cơ sở không có quyền tự chủ về tài chính, không tính toán hiệu quả. Nghĩa vụ cao nhất là làm theo đúng lệnh, cấp trên bao cấp thu, chi và xét thưởng, phạt theo kết quả thi hành lệnh.

Trong cơ chế mới theo Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV), đơn vị kinh tế cơ sở tự chủ về tài chính, lời ăn, lỗ chịu, tự tính toán thu chi theo hiệu quả; tự chịu trách nhiệm làm nghĩa vụ đối với Nhà nước “bảo đảm kết hợp hài hòa giữa ba lợi ích”.

3. Chống tập trung quan liêu trong quản lý kinh tế của cấp trên.

Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) sơ bộ định hướng cho việc xây dựng cơ cấu kinh tế ở các cấp tỉnh, thành phố, huyện và hướng phân cấp cho từng loại địa phương, tỉnh, huyện, xác định rõ mối quan hệ về trách nhiệm giữa kinh tế Trung ương và kinh tế địa phương. Nghị quyết quy định: “Trên cơ sở thực hiện tốt kế hoạch Nhà nước, tỉnh, thành phố có quyền mở rộng sản xuất và kinh doanh kể cả kinh doanh xuất khẩu, giao dịch với các địa phương khác về hợp tác kinh doanh, về trao đổi sản phẩm”, “các ty, sở phải giao trách nhiệm quản lý sản xuất, kinh doanh cho xí nghiệp, công ty”.

4. Xây dựng các ngành kinh tế kỹ thuật, kiện toàn cấp bộ, chống tập trung quan liêu vào cơ quan bộ.

Xây dựng ngành kinh tế kỹ thuật được Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) coi là “những tổ chức then chốt của nền sản xuất cơ khí hóa”. Xây dựng ngành kinh tế kỹ thuật và giao quyền quản lý sản xuất, kinh doanh cho các tổ chức kinh tế của ngành là để bảo đảm chống tập trung quan liêu bao cấp vào cơ quan bộ. Nghị quyết đã phân rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế của bộ với chức năng trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh tế như sau:

“Nhiệm vụ của cơ quan quản lý bộ, tổng cục là:

a) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn về phát triển ngành. Trên cơ sở kế hoạch dài hạn, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hằng năm, nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội, đồng thời phát triển ngành theo quy mô ngày càng lớn.

b) Thực hiện chuyên môn hóa trong nội bộ ngành và giữa ngành mình với ngành khác.

c) Xác định phương hướng phát triển khoa học kỹ thuật, có kế hoạch đào tạo công nhân và cán bộ kỹ thuật cho ngành.

d) Cùng với Chính phủ xây dựng chính sách, chế độ quản lý ngành”.

Trên cơ sở quy định trên về chức năng quản lý nhà nước, về kinh tế của bộ, tổng cục, Nghị quyết yêu cầu: “Bộ trưởng phải khẩn trương tổ chức lại sản xuất của ngành trong cả nước, tạo ra cơ sở kinh tế của ngành, tùy điều kiện mà lập các nhóm sản phẩm, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp, các xí nghiệp, công ty và giao chức năng trực tiếp quản lý sản xuất, kinh doanh cho các tổ chức kinh tế ấy”.

“Theo chức năng đó sửa đổi mạnh cơ cấu tổ chức của bộ: Bỏ hẳn cục, bớt vụ và giảm biên chế của vụ”.

“Các vụ là cơ quan tham mưu của bộ, không có quyền chỉ đạo xí nghiệp và tổ chức sản xuất. Bố trí hợp lý các viện nghiên cứu để hoạt động gắn bó với sản xuất có hiệu quả thực tế…”.

II. Tầm quan trọng của Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) đối với đổi mới kinh tế và một số bài học về chỉ đạo đổi mới kinh tế gắn với đổi mới công tác tổ chức.

Với một số nội dung trên và việc bước đầu thực hiện Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) từ 1978 đến trước Đại hội VI của Đảng cho phép kết luận một số điểm sau:

1. Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) là nghị quyết mở đầu cho sự đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta.

Nghị quyết TƯ 6 (khóa IV) tuy quan trọng nhưng chỉ là nghị quyết đề ra một số chính sách phải tập trung giải quyết trong vòng hai năm 1980-1981. Toàn bộ Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) là nhằm xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, từng bước chuyển nền kinh tế nước ta sang cơ chế mới. Chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phải mãi đến năm 1985 mới được ghi trong Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 (khóa V); Nghị quyết của Bộ Chính trị (số 32-NQ/TW) để quán triệt và cụ thể hóa thêm một bước Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) đã nhận định: Trong một thời gian dài, chúng ta đã quản lý kinh tế theo lối hành chính quan liêu, bao cấp, lấy động viên chính trị thay cho tính toán hiệu quả kinh tế, dùng một bộ máy thuần túy hành chính để quản lý kinh tế, đã đề ra: “Kiên quyết xóa bỏ chế độ quản lý kinh tế hành chính theo lối hành chính bao cấp, chuyển mạnh sang phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa”.

2. Những nhược điểm và hạn chế trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 (khóa IV).

Do thiếu nhất trí trong việc cụ thể hóa quyền tự chủ trong quản lý sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở nên việc thi hành Nghị quyết TƯ 4 có phần chậm. Tuy nhiên, việc Ban Bí thư ra Chỉ thị 100-CT/TW và Chính phủ đã ra Quyết định 25/CP và Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về quản lý hợp tác xã (mà nhiều người thường gọi là khoán 10) theo tinh thần ban đầu quán triệt Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) về quyền tự chủ và bảo đảm ba lợi ích ở đơn vị kinh tế cơ sở đã có tác dụng tích cực, đẩy mạnh phong trào ở cơ sở. Đến tháng 4-1986, trải qua nhiều lần thí điểm, Bộ Chính trị mới ra dự thảo Nghị quyết 306 về vấn đề quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở và cho gửi xuống địa phương và các ngành để vận dụng. Dự thảo này ngay sau Đại hội VI đã được chính thức ban hành.

Việc hình thành các ngành kinh tế kỹ thuật cũng chậm. Mãi đến tháng 7-1986, sau khi ở một số bộ đã hình thành được 67 liên hiệp sản xuất, kinh doanh, Bộ Chính trị sơ kết việc thực hành Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) và Nghị quyết 32-NQ/TW, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 34-NQ/TW trong đó có chủ trương sáp nhập một số bộ, trong đó có Bộ Công nghiệp và Bộ Nông nghiệp thực phẩm theo hướng gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến, thu mua và tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu và ứng dụng khoa học kỹ thuật đã có tác dụng rõ. Nghị quyết 34-NQ/TW tháng 7-1986 là một bước tiến mới trong việc kiện toàn tổ chức, bảo đảm thực hiện cơ chế mới, thiết thực chuẩn bị cho việc thực hiện đường lối của Đại hội VI.

Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) đã đóng góp rất lớn về tư duy lý luận trong quá trình xây dựng đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế của Đại hội VI của Đảng và cũng tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho việc tổ chức thực hiện đường lối đó.

Việc khẳng định Nghị quyết Hội nghị TƯ 4 (khóa IV) khởi đầu của đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta theo hướng “chống cách quản lý kinh tế theo lối hành chính quan liêu và bao cấp” chuyển sang hướng thực hiện cơ chế thị trường của nền sản xuất hàng hóa theo “phương thức hạch toán kinh doanh XHCN” là một cơ sở quan trọng giúp cho những ai muốn nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về đổi mới nền kinh tế ở nước ta có thêm căn cứ trong tham khảo các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng và Chính phủ có liên quan đến đổi mới kinh tế được ban hành trước Đại hội VI.

Qua nghiên cứu và tổ chức thực hiện Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV) chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác xây dựng đảng, nhất là về công tác tổ chức, trong đó có hai bài học khái quát sau:

Phải không ngừng nâng cao tính tích cực và chủ động, khắc phục tính thụ động. Công tác xây dựng đảng, công tác tổ chức của Đảng phải bảo đảm cho đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng được thực hiện đúng đắn, đầy đủ. Tính tích cực, chủ động của công tác tổ chức, xây dựng đảng cần phải thể hiện ở chỗ, mỗi khi có sự trì trệ kéo dài gây tổn thất cho việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị (như cuộc khủng hoảng về kinh tế kéo dài đã xảy ra) thì cần phải xem xét việc cụ thể hóa đường lối, kể cả về chiến lược, giải pháp cơ bản để bảo đảm đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng đắn chứ không chỉ xem xét riêng nguyên nhân về tổ chức, cán bộ như đã xảy ra.

Sự tự phê bình sâu sắc, đúng đắn và khách quan của Ban Chấp hành TƯ Đảng để từ đó rút ra hai nguyên nhân cơ bản kém hiệu lực của bộ máy là cơ sở để đề ra những nội dung cơ bản và đúng đắn đổi mới về tổ chức gắn liền với đổi mới kinh tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.

Qua Nghị quyết TƯ 4 (khóa IV), chúng ta thấy rất rõ mối quan hệ gắn bó giữa nắm vững quy luật kinh tế-xã hội với việc thực hiện nguyên tắc về tổ chức xây dựng đảng: Có nắm vững quy luật kinh tế, vận dụng đúng đường lối đi lên CNXH của Đảng mới đề ra được đổi mới cơ cấu kinh tế và quản lý kinh tế đúng đắn, vừa bảo đảm hiệu quả kinh tế cả trước mắt và lâu dài, phát triển tốt lực lượng sản xuất, vừa tạo điều kiện bảo đảm cho nguyên tắc tổ chức, xây dựng Đảng được thực hiện thuận lợi, đúng phương hướng. Mặt khác, có giữ vững nguyên tắc về tổ chức, xây dựng Đảng mới tạo ra được sức mạnh của tổ chức để quán triệt và thực hiện các yêu cầu về nắm vững quy luật kinh tế-xã hội, nắm vững cơ cấu kinh tế mới và cơ chế quản lý mới, tránh lệch lạc, chệch hướng.

LÊ HUY BẢO
Nguyên Phó trưởng ban Thường trực, Ban Tổ chức Trung ương
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 8 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS