Diễn đàn
Để ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng
23:27' 7/5/2007


Việc chống tiêu cực (TC), tham nhũng (TN) ở nước nào cũng gặp khó khăn, phức tạp. ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành “Luật phòng chống tham nhũng”. “Luật tiết kiệm, phòng chống lãng phí”.
 
Để góp phần đẩy mạnh phòng chống TC, TN, bài viết này muốn làm rõ thêm căn nguyên và giải pháp.
 

Thời kỳ 1954-1975, miền Bắc là hậu phương của cả nước, tập trung mọi tài lực cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đời sống mọi tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, công chức (CBCC) vô cùng kham khổ, thiếu thốn. Nhà nước và nhân dân đồng cam cộng khổ vượt qua gian nan, khó nhọc. Thời này là thời “vàng son” về đức độ của người cách mạng, tuyệt đại đa số sống, làm việc theo phương châm mình vì mọi người, mọi người vì mình, đói cho sạch, rách cho thơm. Thời đó tôi chưa nghe từ “tham nhũng”, từ “tham ô” cũng chẳng mấy khi nghe.

 
Thời “bao cấp” sau 1975 đến 1986, cả nước tiến hành công cuộc tái thiết đất nước và lo chống giặc quấy rối biên giới, chống trả các thế lực thù địch quấy phá bằng nhiều cách. Đời sống chưa có gì khá giả, sống bằng “tem phiếu”, ngoài 8 giờ làm việc thì CBCC phải lo ăn từng bữa. Thời này cũng đã bắt đầu nảy sinh tư tưởng “phi vô sản”, nên Nhà nước thành lập Ban 228, có tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, nhằm đấu tranh ngăn chặn những hành vi tiêu cực mới nảy sinh. Thời gian tồn tại Ban 228 không lâu, nhưng hoạt động có kết quả. Sau vài năm hoạt động, Ban 228 giải thể, có lẽ vì cho rằng đã có ban thanh tra công nhân, có uỷ ban kiểm tra, thanh tra các cấp.
 
Đến thời sau “bao cấp”, đất nước mở cửa hội nhập, sản xuất phát triển, kinh tế-xã hội thay đổi nhiều, nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng. Nhưng mặt trái của phát triển kinh tế thị trường nảy sinh. “Tiêu cực”, “tham ô”, “tham nhũng” trở thành “giặc nội xâm” trong hàng ngũ CBCC. Nó đã chui, lách vào tất cả các ngóc ngách cuộc sống, các lĩnh vực, các ngành, các cấp.
 
Xin nêu một số căn nguyên TC, TN như sau:

Thứ nhất: Trong hoạt động xã hội có nhiều luật: Luật về lao động, bảo hiểm xã hội, công chức, giáo dục, quân sự… nhưng kém hoàn chỉnh. Luật đã ban hành, đến ngày có hiệu lực còn chờ hướng dẫn, chờ nghị định. Hướng dẫn, nghị định lại còn đề nghị xem văn bản này hay văn bản kia đã ra trước đây, nghĩa là vừa làm, vừa xem, vừa tra “từ điển” nên không tránh khỏi tình trạng hở trong luật. Vậy là những kẻ TN có cơ hội “lách luật”, hoặc “nấp trong luật”.

 
Thứ hai: Đạo đức, lối sống, ý thức, lập trường giai cấp công nhân của không ít CBCC và đảng viên, cán bộ lãnh đạo đã bị biến đổi, suy thoái. Trước đây, Bác Hồ luôn dạy: “Vàng càng luyện càng trong”, người cán bộ phải có đức, có tài, nếu không có đức thì không làm được “đầy tớ” cho dân. Nhưng nay nhiều người không chịu rèn luyện, sự suy thoái, tha hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ, kể cả một số cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước đã là một căn nguyên đe dọa sự phát triển của chế độ XHCN ở nước ta.
 
Thứ ba: Tư tưởng khá phổ biến trong nhân dân hiện nay là chấp nhận “sống chung với TC”. Tư tưởng này là chất độc hại ảnh hưởng xấu đến khí thế chống TC, TN trong xã hội.

Tôi nghĩ, TN đồng nghĩa với bóc lột, trở thành tội ác đối với dân tộc. Tôi nghĩ cần nhận diện cho rõ loại bóc lột bằng hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Dạng thức này biểu hiện ở những mức độ và hình thức chính sau:

 
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn (dù nhỏ) để nhũng nhiễu dân nhằm kiếm lợi, ăn tiền bất chính. Dạng thức này có thể xảy ra với một cảnh sát giao thông, một nhân viên hành chính… và ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều cơ sở. Muốn chống phá được nó, luật phải thật rạch ròi, có chế tài cụ thể để xử lý các hành vi tiêu cực theo luật.
 
b) Lợi dụng chức vụ cao, quyền hạn rộng để có thu nhập bất chính. Đó là những kẻ thu nhập không có nguồn gốc từ lao động, hoặc vượt quá nhiều với sức lao động và của cải mà chúng bỏ ra. Đây là loại bóc lột có hại vô cùng lớn cho xã hội, cho nhân dân. Đi đôi TN cực độ là chơi xài trác táng, truỵ lạc cũng cực độ. Nó phá vỡ nền đạo đức XHCN, đe dọa sự tồn tại của chế độ ta. Nó là giặc “nội xâm” vừa tinh vi, xảo quyệt, vừa tàn bạo. Trừ khử bọn TN này không dễ, phải dùng những ban chuyên án đặc biệt của địa phương, của Trung ương… Đã có Luật Chống tham nhũng thì phải kiên quyết, ra tay một cách sắc bén và nghiêm minh với bọn giặc đó.
 
c) Lợi dụng cơ chế, tạo kẽ hở để trục lợi, tự ban chế độ thu nhập cao cho mình bằng chia chác những “phần trăm” vô lý, tạo ra những “luật” để dựa. Đây là hình thức bóc lột được ẩn núp dưới rất nhiều mánh khoé. Cần có biện pháp rào chắn cho kỹ, tránh những kẽ hở không đáng  có. Ví dụ:
 
Công tác tuyển dụng trong cơ quan nhà nước phải được thông báo rộng rãi, từ một đến hai tháng trước khi lập hội đồng xét tuyển. Hồ sơ có thể chuyển qua bưu điện đến tay giám đốc ký nhận, chuyển cho trưởng phòng tổ chức tập hợp, rồi mở thi tuyển theo cơ chế rõ ràng. Có vậy mới tránh được tình trạng “bắt mối theo đường dây” để ăn tiền người muốn xin vào cơ quan làm việc (tình trạng ăn tiền theo kiểu đường dây hiện nay không chỉ xảy ra ở một vài cơ quan, doanh nghiệp)...
 
Trong thực thi nghĩa vụ quân sự năm 2005, có phường chỉ tiêu nhập ngũ là 22 nhưng lệnh gọi thêm 20 thanh niên nữa. Thế là sinh ra “tiêu cực”, “chạy vạy cầu cứu”. Sau đó có những người được “thả về” (vì đi thì có lệnh, có xe đưa, còn về thì tự đi) giấy tờ cũng không có nên mất việc làm, mất học. Họ phải xin làm ở chỗ khác, hoặc xin học lại. Cho nên, luật nghĩa vụ quân sự cần ghi rõ trách nhiệm cơ quan tuyển quân đối với “quân dự bị” trả về...
 
Có xí nghiệp, khi còn là của Nhà nước, lương + phần mềm của giám đốc từ năm đến bảy triệu đồng/tháng. Khi chuyển thành công ty cổ phần, giám đốc cũ làm chủ tịch hội đồng quản trị, lương + thù lao lên đến ba chục triệu/tháng. Lẽ dĩ nhiên các thành viên HĐQT, ban kiểm soát cũng “ăn theo”. Việc bỏ phiếu dễ dàng vì chủ tịch HĐQT là đại diện của Nhà nước - bên có vốn góp trên 51%. Do đâu chủ tịch HĐQT có giá trị “chất xám” tăng vọt như vậy? Phải chăng “luật” đã “hở” để chủ tịch HĐQT tự tung tự tác?
 
Vậy, muốn chống TC, TN có kết quả phải gắn kết các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Các văn bản pháp luật phải cụ thể, chi tiết, rõ ràng, hạn chế mức tối đa các văn bản dưới luật; nếu có thì cũng phải bớt tình trạng truy lục vòng vo, phải hệ thống lại cho chặt chẽ, rõ ràng, cụ thể. Phải đối chiếu lại các luật mà tu chỉnh cho phù hợp.
 
Có đau đớn mấy cũng mổ xẻ cho ra kẻ đã có hành vi TC, TN, phải khai trừ cho được chúng ra khỏi hàng ngũ cán bộ, đảng viên.
Hồ Trọng Thảng
Thành phố Quy Nhơn
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS