Diễn đàn
Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
13:22' 31/5/2007


Trên cơ sở đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế, yếu kém trong tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội, Hội nghị Trung ương 4 (khoá X) đề ra quan điểm và giải pháp tiếp tục đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị nói chung và bộ máy hành chính nhà nước nói riêng. Theo đó, tiếp tục điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước trong giai đoạn mới của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Phương án cụ thể về tổ chức bộ máy của Chính phủ sẽ được thảo luận và quyết định tại Hội nghị Trung ương 5.

Đánh giá về những thành tựu đã đạt được, Đảng ta nhấn mạnh: Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nói chung và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói riêng đã được thực hiện một bước. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp được phân định cụ thể hơn, phân cấp nhiều hơn đã góp phần ổn định chính trị-xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, mở rộng công tác đối ngoại và tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội và thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế. Vai trò và chức năng của Chính phủ, các bộ và cơ quan ngang bộ được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước, quản lý vĩ mô, bao quát các thành phần kinh tế trong phạm vi toàn quốc. Các thành viên Chính phủ được phân công và chịu trách nhiệm bao quát các công việc của Chính phủ. Hoạt động dịch vụ công và chức năng đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ bước đầu được tách bạch. Các cơ quan thuộc Chính phủ về cơ bản được phân định rõ: Một số cơ quan có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được giao và các cơ quan sự nghiệp chỉ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp, dịch vụ công. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ được đổi mới: Thành lập, đổi tên và điều chỉnh lại chức năng một số bộ, cơ quan ngang bộ và hợp nhất các cơ quan thuộc Chính phủ có đủ điều kiện thành lập bộ, cơ quan ngang bộ để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Kết quả, so với năm 1986, đầu mối các cơ quan thuộc Chính phủ đã giảm từ 76 xuống còn 39 (20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và 13 cơ quan thuộc Chính phủ). Các bộ, ngành cũng từng bước được đổi mới, hoàn thiện cả về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh đã giảm hơn so với năm 1986: Cấp tỉnh từ 35-40 đầu mối, nay còn 19-25 đầu mối, cấp huyện từ 20-25 đầu mối, nay còn 8-12 đầu mối. Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương được điều chỉnh trên cơ sở có sự phân cấp giữa Trung ương và địa phương trên một số lĩnh vực. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tập thể và cá nhân được xác định cụ thể, rõ ràng hơn, hạn chế được tình trạng sót việc, lấn sân, không quy được trách nhiệm cho cá nhân. Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa”, giảm phiền hà và thời gian chờ đợi của nhân dân khi có việc liên quan đến cơ quan công quyền.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt được, còn không ít hạn chế, yếu kém.

Bộ máy nhà nước đổi mới chậm, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế-xã hội. “Nhìn chung, việc xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức chưa đạt yêu cầu tinh gọn, hiệu quả; bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, quan liêu, trách nhiệm không rõ, hiệu lực, hiệu quả thấp. Mối quan hệ về trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu chưa được quy định cụ thể; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân và tập thể, khó đánh giá được kết quả công tác và quy rõ trách nhiệm cá nhân khi có sai phạm”(1). Đánh giá những hạn chế qua 20 năm đổi mới trên lĩnh vực hệ thống chính trị, Đảng ta chỉ rõ: “chưa làm sáng tỏ “tính độc lập tương đối” của mỗi quyền, về sự chế ước lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực; vấn đề kiểm tra, giám sát quyền lực, bảo đảm quyền lực không bị thoái hoá và bị lạm dụng. Chưa có nhận thức đầy đủ về vấn đề làm sao để tránh chồng chéo cũng như tránh lạm quyền trong hoạt động của các cơ quan nhà nước; về cơ chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Nhà nước. Bộ máy hành chính còn nhiều tầng nấc làm cho quản lý các quá trình kinh tế-xã hội chưa thật nhanh, nhạy và có hiệu quả cao”(2).

Do đó, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước phù hợp với những nhiệm vụ mới. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tập trung đổi mới, hoàn thiện đồng bộ cả 3 yêu cầu “rà soát, xác định chức năng, nhiệm vụ; sắp xếp tổ chức, bộ máy; tinh giản biên chế” với bước đi thích hợp, đảm bảo yêu cầu cơ bản phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các tổ chức, các cơ quan; loại bỏ sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, các cơ quan và trong từng bộ phận; kiên quyết loại bỏ những tổ chức, những khâu không cần thiết của tổ chức, bộ máy; tăng cường vai trò lãnh đạo và quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương, đồng thời mở rộng hơn nữa sự phân cấp cho các địa phương, nhằm phát huy tính năng động, chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của địa phương, cơ sở.

Đổi mới, hoàn thiện tổ chức phải được coi là nhiệm vụ thường xuyên, mang tính quy luật. Trong quá trình đổi mới, hoàn thiện tổ chức cần phân tích thật khách quan các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, địa lý, tâm lý... trên cơ sở đó tìm ra lời giải các bài toán về hình thức, phương pháp, cơ chế hoạt động, cơ cấu tổ chức sao cho thích hợp nhất, tránh phiến diện, giản đơn hoặc chủ quan, duy ý chí, áp dụng máy móc hình thức tổ chức nơi này sang nơi khác mà không xét đến trình độ phát triển kinh tế-xã hội khác nhau.

Đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước trong giai đoạn mới của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế là quán triệt quan điểm phục vụ, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển bình đẳng của các thành phần kinh tế, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các tổ chức và công dân; cơ cấu bộ máy hành chính phải tinh gọn, ít đầu mối, vận hành thông suốt, nhanh nhạy, có hiệu lực, hiệu quả cao; tăng cường pháp chế, luật pháp trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

Bám sát những yêu cầu đó, đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng đề cao tính chủ động, chịu trách nhiệm của Chính phủ trước những công việc hệ trọng của đất nước, trong việc quản lý, điều hành nền hành chính nhà nước, tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương...; tăng cường thẩm quyền của Chính phủ trong việc quyết định các chương trình, dự án quốc gia, đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế với chính phủ các nước. Thời gian tới việc đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Chính phủ cần tập trung vào những nội dung sau:

Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ theo hướng tăng cường quản lý vĩ mô các lĩnh vực hoạt động kinh tế của toàn xã hội, giảm khối lượng các vụ việc cụ thể. Chính phủ tập trung chủ yếu vào việc xây dựng thể chế nền hành chính, hoạch định chiến lược, kế hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân. Phân cấp đồng bộ thẩm quyền, trách nhiệm và nguồn lực cho các cấp chính quyền địa phương nhằm phát huy vai trò chủ động của các địa phương trong việc khai thác và sử dụng mọi nguồn lực tại chỗ.

Điều chỉnh cơ cấu tổ chức Chính phủ gọn về đầu mối, chủ yếu gồm các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực và chỉ thành lập một số bộ đơn ngành đối với những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn, chiến lược, đòi hỏi phải có sự quản lý, điều hành tập trung, ưu tiên như lĩnh vực kinh tế, an ninh, quốc phòng, tư pháp, ngoại giao... Trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lý hành chính của nhà nước với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và chức năng tổ chức cung cấp dịch vụ công của Chính phủ, xoá bỏ chế độ chủ quản của bộ đối với bộ phận kinh tế nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu, sắp xếp lại để hình thành một số bộ và cơ quan ngang bộ theo hướng gắn kết sâu hơn giữa yêu cầu quản lý nhà nước về lĩnh vực và các hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, như: Xây dựng với giao thông vận tải; du lịch với thương mại...

Xây dựng cơ cấu tổ chức Chính phủ bao gồm các bộ và cơ quan ngang bộ, bao quát được hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước vĩ mô ở cấp trung ương. Bộ máy thực hiện chức năng quản lý nhà nước là bộ, cơ quan ngang bộ. Thu gọn tiến tới không còn các cơ quan thuộc Chính phủ theo hướng: Sáp nhập các cơ quan trực thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực thuộc cơ cấu tổ chức Chính phủ (các bộ, cơ quan ngang bộ); các tổng cục, cục (có chức năng quản lý nhà nước)  không nên tồn tại độc lập mà nên là một bộ hoặc thuộc vào một bộ tuỳ theo điều kiện, yêu cầu. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ theo hướng làm rõ chức năng, nhiệm vụ và xây dựng cơ cấu tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao.

Nghiên cứu đề án thiết lập hệ thống cơ quan chính quyền địa phương đa dạng, trên cơ sở nhu cầu quản lý, tính chất của từng loại đơn vị hành chính, phân biệt sự khác nhau giữa mô hình tổ chức của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn. Phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã trên cơ sở: Tách bạch chức năng quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh và quản lý sự nghiệp, dịch vụ công; đẩy mạnh phân cấp quản lý giữa Trung ương với địa phương và giữa 3 cấp chính quyền địa phương. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân người đứng đầu, đảm bảo những công việc quan trọng phải được bàn bạc và quyết định tập thể, đồng thời vẫn phát huy được tính tự chủ, năng động sáng tạo trong chỉ đạo công việc của người đứng đầu. Nghiên cứu chuyển một số cấp hội đồng nhân dân, trước hết là hội đồng nhân dân cấp xã, phường, thị trấn sang chế độ chính quyền tự quản, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước chính quyền cấp trên và pháp luật. Thiết lập cơ chế kiểm soát có hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương.

______

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.270. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), NXBCTQG, H. 2005, tr.117-118.

TS Trần Hậu Thành
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS