Diễn đàn
Đổi mới công tác quản lý cán bộ
14:46' 19/4/2007


Gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) “con tàu Việt Nam” vươn mình ra biển lớn, chính thức hội nhập vào dòng chảy của nền kinh tế thế giới với tất cả những cơ hội và thách thức. Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường, thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng mức độ tác động của nó đến đâu, tất cả đều tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của “Người thuyền trưởng” - Đảng Cộng sản Việt Nam. Xuất phát từ quan điểm “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, ta có đạt được thành công trên lộ trình hội nhập hay không, một phần cơ bản và quan trọng nhất là Đảng ta quản lý phát huy như thế nào nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ nói riêng - những người hoạch định và thực thi các nhiệm vụ đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Công tác cán bộ của Đảng bao gồm nhiều khâu, mỗi khâu có nội dung, yêu cầu riêng nhưng nằm trong một thể thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau. Theo chúng tôi, quản lý cán bộ chính là khâu tiền đề và có vị trí trọng yếu trong công tác cán bộ.

Đảng ta thẳng thắn chỉ rõ những khuyết điểm, hạn chế về công tác quản lý cán bộ đã tồn tại trong nhiều năm qua: “Công tác quản lý cán bộ không chặt chẽ; các cấp ủy đảng ít hiểu cán bộ và chưa chăm lo đào tạo và bồi dưỡng cán bộ”(1), “chưa xây dựng được quy chế về quyền và trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu các cấp trong công tác cán bộ. Cấp có thẩm quyền và chi bộ chưa làm tốt việc quản lý và giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo”(2). Trước sự tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế thị trường vẫn còn “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng... Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”(3). Đó là nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ.

Có một số nguyên nhân dẫn đến những khuyết điểm nêu trên: Chủ thể quản lý chưa nhận thức đầy đủ những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình, của quá trình hội nhập quốc tế, mặt trái của kinh tế thị trường và đặc điểm hoạt động và sinh hoạt của cán bộ trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế-xã hội đã tác động nhiều mặt đến đội ngũ cán bộ, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có những cấp ủy, người đứng đầu tổ chức chưa đầu tư đúng mức thời gian, công sức cho công tác xây dựng đảng, chưa thực sự chú trọng đến công tác quản lý cán bộ, hoặc còn đồng nhất nội hàm công tác cán bộ với quản lý cán bộ, hoặc giao phó công tác này cho cơ quan chuyên môn; chưa cụ thể hóa nội dung quy định về phân công, phân cấp quản lý cán bộ phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ chính trị và thực trạng đội ngũ cán bộ của cơ quan, đơn vị mình; chưa thực sự coi trọng vai trò của các tổ chức, các lực lượng và của quần chúng trong việc tham gia quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ; ý thức trách nhiệm trong tự quản lý bản thân và đơn vị của một số cán bộ còn yếu.

Để thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu về công tác cán bộ và quản lý cán bộ đã được Đại hội Đảng lần thứ X xác định, theo chúng tôi cần:

1. Tiếp tục quán triệt, thống nhất nhận thức cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và người đứng đầu các tổ chức về nội dung, nguyên tắc quản lý cán bộ.

Cần hiểu rõ quản lý cán bộ là nhiệm vụ trực tiếp của các cấp ủy đảng, của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, là việc làm hằng ngày, gắn với việc thực hiện các chủ trương, kế hoạch công tác; đó chính là quá trình nhận thức của chủ thể quản lý qua việc thu thập và xử lý thông tin liên quan để thấy rõ “chất” của cán bộ thuộc quyền. Để hiểu và biết rõ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Không nên chỉ xem xét công việc của họ trong một lúc, mà phải xem cả công việc của họ từ trước đến nay”(4) vì vậy, quản lý cán bộ phải là yếu tố thường xuyên trong quy trình công tác cán bộ ở các cấp, từ cơ sở đến Trung ương và cần được xác định là nội dung trọng tâm trong “khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt”.

2. Mở rộng phân cấp quản lý cán bộ.

Phân cấp quản lý cán bộ là sự phân định về trách nhiệm và quyền hạn của mỗi tổ chức ở các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức đó về công tác cán bộ. Cấp ủy, người đứng đầu tổ chức cấp trên phân quyền cho cấp ủy, người đứng đầu tổ chức cấp dưới theo hướng xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm trong một số vấn đề thuộc về chính sách, chế độ cụ thể. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Kết hợp tốt giữa các khâu công việc trong công tác cán bộ và giữa công tác cán bộ với các công tác khác, bảo đảm “mở rộng phân cấp quản lý đi đôi với tăng cường kiểm tra công tác cán bộ”(5). Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý cán bộ một cách hợp lý sẽ là một biện pháp có hiệu quả nhằm khắc phục tình trạng bao biện, bị động của một số cấp ủy đảng, người đứng đầu tổ chức trong công tác cán bộ và bảo đảm cho công tác quản lý cán bộ bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Để thực hiện tốt nội dung này, cần khắc phục cả hai khuynh hướng thiếu tin tưởng ở khả năng quản lý cán bộ của cấp dưới; hoặc ngược lại, giao ngay việc khi cấp dưới chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ mới được giao.

3. Phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu; xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế làm việc, quy chế quản lý cán bộ.

Trong một tổ chức, vai trò của người đứng đầu rất quan trọng, đôi khi còn mang tính quyết định đối với sự vững mạnh của tổ chức đó. Điều đó còn được thể hiện trong công tác quản lý cán bộ dưới quyền, từ việc bố trí, sử dụng vào các chức danh cụ thể đến khen thưởng, kỷ luật, xét lương, nâng ngạch… (trừ một số rất ít chức danh thuộc quyền quản lý của cấp ủy cấp trên nhưng ý kiến nhận xét, kiến nghị với cấp ủy cấp trên của người đứng đầu cơ quan, đơn vị sở tại về cán bộ đó vẫn rất quan trọng). Vì vậy, cho dù bị chủ nghĩa cá nhân chi phối hoặc do tính đảng kém, năng lực không tương xứng với cương vị và chức trách được giao dẫn cán bộ thuộc quyền đến tình trạng nào (buông lỏng nguyên tắc, kỷ cương, kỷ luật, nền nếp sinh hoạt, chế độ công tác, làm mất dân chủ nội bộ... tại cơ quan, đơn vị) thì người đứng đầu cũng phải liên đới chịu trách nhiệm.

Xây dựng và nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện hệ thống quy chế của cấp ủy các cấp là một trong những biện pháp thiết thực nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, bảo đảm cho hoạt động của cấp ủy, từng thành viên được thống nhất trong toàn bộ hoặc một lĩnh vực công tác nhất định; phát huy được vai trò hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đảng ở cơ quan, đơn vị. Cần cụ thể hóa những nguyên tắc, quy định của Trung ương, của tổ chức đảng cấp trên thành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nguyên tắc, chế độ công tác, các mối quan hệ và cách thức giải quyết các mối quan hệ đó phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, điều kiện cụ thể của cấp ủy cấp mình. Cấp ủy các cấp cần nhận thức rõ sự khác nhau về cấp độ quản lý cán bộ giữa cấp chỉ đạo chiến lược với cấp trực tiếp triển khai, do đó, cấp dưới không thể chỉ mô phỏng chung chung quy định của cấp trên mà cần phải cụ thể hóa quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Trung ương (áp dụng chung cho việc quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn Đảng) thành quy chế về phân cấp quản lý cán bộ ở cấp mình (áp dụng cho từng chức danh cán bộ gắn với mỗi con người cụ thể - mà trong tính hiện thực của nó “bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(6) nhằm mục tiêu “quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ... nắm chắc từng cán bộ, cả về đức, tài và tình trạng sức khỏe”(7) và thường xuyên kiểm tra, kịp thời bổ sung hoặc uốn nắn những sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện quy chế.

4. Gắn quản lý đội ngũ cán bộ, quản lý đảng viên với xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh, phát huy quyền làm chủ, có cơ chế bảo đảm cho quần chúng tham gia quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên.

“Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng. Trái lại, nếu chi bộ kém thì mọi việc đều không trôi chảy”(8). Điều đó cho thấy, sự vững mạnh của “gốc rễ” - môi trường trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và phân công công tác cho đảng viên chính là nhân tố quan trọng hàng đầu trong công tác quản lý con người cán bộ - đảng viên. Do đó, xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh và trở thành môi trường văn hóa lành mạnh, duy trì sinh hoạt đảng có nền nếp, chất lượng, nâng cao tính chiến đấu trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình, gắn kết quả quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ với kết quả hoàn thành nhiệm vụ của chi ủy, chi bộ, thực hiện có chất lượng công tác kiểm tra đảng,... là cơ sở vững chắc, một trong những biện pháp thiết thực để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trực tiếp quản lý cán bộ (kể cả các đồng chí ủy viên trung ương) đang công tác, sinh hoạt trong tổ chức mình và chịu trách nhiệm trước cấp ủy, thủ trưởng cấp trên về cán bộ thuộc quyền quản lý của mình”(9).

Quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên còn được thực hiện bằng nhiều biện pháp. Kết hợp phong trào quần chúng đấu tranh chống tiêu cực với công tác thanh tra của Nhà nước và công tác kiểm tra của Đảng. Tạo điều kiện để quần chúng trong cơ quan, đơn vị được giám sát, phê bình cán bộ thông qua việc thực hiện cơ chế “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(10) như Bác Hồ đã dạy; đồng thời, duy trì chế độ định kỳ hàng năm hoặc khi cần cấp uỷ cơ sở nơi cán bộ cư trú đánh giá, nhận xét và thông báo với cấp uỷ quản lý cán bộ đang công tác.

5. Thường xuyên đề cao ý thức tự học tập, tự quản lý của mỗi cán bộ.
Cán bộ vừa là chủ thể quản lý, vừa là đối tượng quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu tổ chức. Việc quản lý cán bộ có hiệu quả của chủ thể quản lý không những nâng cao tính chủ động trong phát hiện, khuyến khích hay cảnh báo, mà còn giúp cán bộ tự tin, phát huy sáng kiến hoặc kịp thời nhận ra và khắc phục khuyết điểm, không để xảy ra vi phạm. Quản lý tốt sẽ tạo ra môi trường tốt để từng cán bộ nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ luật.

Ý thức tự quản lý của người cán bộ luôn giữ vai trò quyết định. Thực tế cho thấy, các biện pháp của tổ chức dù có chặt chẽ đến đâu, nhưng nếu từng cán bộ không nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật thì tổ chức cũng không thể “bao quát, đi sâu và nắm chắc” được từng cán bộ thuộc quyền. Vì vậy, mỗi cán bộ phải luôn nêu cao ý thức tự quản lý, tự khép mình vào tổ chức và nâng cao ý thức công dân trong thực hiện pháp luật, coi đó là điều kiện tiên quyết để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Để tự quản lý, mỗi cán bộ cần tích cực chủ động học tập, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, vì không có vốn tri thức rộng, kinh nghiệm phong phú thì mỗi cán bộ, đảng viên không thể tự quản lý mình khi tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội, nhất là trong điều kiện Việt Nam hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, các mối quan hệ của cán bộ ngày càng đa dạng, phức tạp, không dễ kiểm soát.

Do đó, quản lý cán bộ cần kết hợp giữa phát huy tính tích cực tự giác của bản thân cán bộ với tính chủ động, tích cực của cấp ủy, người đứng đầu tổ chức và cơ quan chức năng trong việc thu thập, xử lý những thông tin cần thiết về đội ngũ cán bộ theo thẩm quyền. Nội dung quản lý cán bộ cần được cấp ủy đảng, người đứng đầu tổ chức các cấp nghiên cứu, phân tích sâu sắc để có được những giải pháp tích cực và đồng bộ từ chủ trương, chính sách mang tính vĩ mô đến những biện pháp cụ thể, sáng tạo ở từng chi bộ, đơn vị cơ sở.

____

(1) Đảng Lao động Việt Nam, Nghị quyết số 225-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa III) “Về công tác cán bộ trong giai đoạn mới”, bản sao, tr.3. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ IX BCHTƯ khóa X, NXBCTQG, H.2004, tr.65. (3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng X, NXBCTQG, H.2006, tr.263-264. (4) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 5, tr.281-282. (5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội X NXBCTQG, H.2006, tr.295. (6) Đảng Cộng sản Việt Nam, các nghị quyết của Trung ương Đảng (1996-1999), NXBCTQG, H.2000, tr.88. (7) C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 3, tr.11. (8) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.1996, tập 11, tr.161. (9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Quy định thi hành Điều lệ Đảng số 23-QĐ/TW ngày 31-10-2006, bản sao, tr.37. (10) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.1995, tập 5, tr.29.

NGUYỄN PHI LONG
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS