Diễn đàn
Tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng
11:26' 19/9/2006


Sinh thời, V.I.Lê-nin rất coi trọng việc tổ chức thực hiện nghị quyết, Người đã từng nhấn mạnh: Khi mục đích, nhiệm vụ đã được xác định, nghị quyết đã được thông qua thì việc tổ chức thực hiện nghị quyết lại trở nên quan trọng hàng đầu. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra việc thực hiện. Có như vậy, nghị quyết của Đảng mới trở thành hiện thực trong cuộc sống, nếu không, nó chỉ là “mớ giấy lộn”. Thật vậy, một nghị quyết dù đúng đắn, có đủ cơ sở khoa học đến mấy vẫn cứ là nghị quyết nằm trên giấy, nếu sau đó không có một quá trình tổ chức thực hiện.

Đánh giá quá trình đổi mới, Đảng ta cho rằng, bên cạnh những thành tựu quan trọng đạt được, chúng ta còn nhiều khuyết điểm, yếu kém. Những yếu kém, khuyết điểm đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là việc tổ chức thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng chưa  (1).

Thực tế đã có không ít cấp uỷ họp và ra nhiều nghị quyết, nhưng sau đó nghị quyết đi đến đâu, thực hiện như thế nào không được coi trọng. Vì vậy, trong Chiến lược xây dựng cán bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước, Đảng ta khẳng định: “Có đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền”(2).

Yêu cầu quan trọng nhất của quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết là sự thống nhất giữa lời nói với việc làm, giữa việc ra nghị quyết với việc tổ chức thực hiện nghị quyết. Để quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng được tốt, các cấp uỷ phải đảm bảo những yêu cầu công tác cơ bản sau:

1. Khi đã có nghị quyết thì đồng thời phải có chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết.

Chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện nghị quyết bao gồm:

Kế hoạch phổ biến, quán triệt nghị quyết trong tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể quần chúng; đặc biệt là đối với những tổ chức có trách nhiệm, liên quan trực tiếp đến nội dung chỉ đạo của nghị quyết.

Mỗi nghị quyết, tuỳ theo tính chất, nội dung mà có mối liên quan đến các tổ chức, cơ quan, ban ngành và cán bộ, đảng viên. Vì vậy, phải có kế hoạch sắp xếp bộ máy, tổ chức, phân công, phối hợp, giao trách nhiệm, bố trí cán bộ tổ chức thực hiện một cách rõ ràng, cụ thể, có chương trình với danh mục những công việc cụ thể hằng năm và toàn khoá.

Có chương trình, kế hoạch kiểm tra việc thực hiện nghị quyết. Cần xác định rõ nội dung, lực lượng, thời điểm và các cách kiểm tra.

2. Trên cơ sở chương trình, kế hoạch đã xây dựng phải tổ chức tốt việc phổ biến, truyền đạt nghị quyết cho các tổ chức, cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Phải bằng nhiều hình thức, phương pháp, phối hợp nhiều lực lượng để truyền đạt, phổ biến nghị quyết phù hợp chức năng, tính chất và lĩnh vực hoạt động của từng loại đối tượng, làm cho các đối tượng nhận thức đúng đắn, tin tưởng và tự giác thực hiện nghị quyết của tổ chức đảng. Phải lựa chọn báo cáo viên một cách cẩn thận, khi truyền đạt, phổ biến nghị quyết, phải nắm chắc và làm rõ cơ sở khoa học của việc hình thành nghị quyết, nội dung kế hoạch và những biện pháp thực hiện, có lý lẽ lập luận vững chắc với những tư liệu, số liệu xác thực để thuyết phục người nghe tạo được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Có lòng tin mới tự giác, có tự giác mới hăng hái thực hiện thắng lợi nghị quyết. Phải đặc biệt coi trọng sự thuyết phục đối tượng, thuyết phục quần chúng ngay cả khi nghị quyết của tổ chức đảng đã được thể chế hoá bằng quyết định, kế hoạch công tác của chính quyền.

3. Phân công rõ trách nhiệm và phối hợp hành động giữa cán bộ và các tổ chức trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết. Đây thực chất là vấn đề cá nhân phụ trách sau khi đã được tập thể bàn bạc tập trung thành quyết nghị. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cá nhân và tính chất, nội dung công việc mà phân công cho phù hợp. Khi đã lựa chọn đúng người, giao đúng việc, người lãnh đạo cần tạo điều kiện, tôn trọng quyền hạn và khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của tổ chức và cán bộ được phân công, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ.

Từ nhiệm vụ được phân công, từng tổ chức và cá nhân phải cụ thể hoá nghị quyết thành những chủ trương, biện pháp, những quyết định, chỉ tiêu, những bước đi cụ thể phù hợp với từng ngành, từng đơn vị, cơ sở.

Người lãnh đạo phải biết phối hợp hoạt động của các tổ chức và cá nhân để có sự “ăn khớp”, nhịp nhàng, đồng bộ, tạo ra một sự “cộng hưởng” hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.

4. Lựa chọn đúng khâu đột phá trong tổ chức thực hiện.

Trong các công việc lớn nhỏ đều phải có việc làm trước, việc làm sau. Do vậy, phải biết tính toán, sắp đặt hợp lý, biết chọn khâu trọng tâm, đột phá và chỉ đạo dứt điểm trong từng thời gian. Nên làm thí điểm, chỉ đạo điểm và tổng kết để từ đó rút kinh nghiệm chỉ đạo chung.

Những nơi làm điểm phải ở trong điều kiện bình thường. Cần tránh sự “đầu tư” và “ưu tiên” quá mức, tránh bệnh hình thức, rập khuôn, chạy theo thành tích.

5. Luôn coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra việc chấp hành nghị quyết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”(3).

Kiểm tra như ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm chúng ta đều thấy rõ.

“Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(4).

Như vậy, kiểm tra việc chấp hành nghị quyết có phạm vi và đối tượng rộng hơn kiểm tra vi phạm, đòi hỏi cấp uỷ phải kiểm tra một cách có hệ thống, thường xuyên.

6. Sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời.

Khi viết về tư cách của Đảng cách mạng chân chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”(5).

Việc sơ kết, tổng kết không phải là báo cáo thành tích, kể lể, liệt kê công việc mà phải nắm bắt, xử lý và tổng hợp, khái quát thông tin để đánh giá chính xác, đúng đắn, đầy đủ những ưu điểm, khuyết điểm, những cái được và chưa được với những minh chứng xác thực về số lượng, chất lượng công việc so với nghị quyết. Hơn nữa, phải tìm đúng nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan của những ưu điểm, khuyết điểm. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm sửa đổi, bổ sung, uốn nắn lệch lạc; kiến nghị, đề xuất những vấn đề cần thiết với cấp trên trong quá trình thực hiện nghị quyết của Đảng.

____

(1) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, NXBCTQG, H.2001, tr.68-72. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BCHTƯ khóa VIII, NXBCTQG, H.1997, tr.27. (3, 4, 5) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 5, tr.520, 287, 250.

TS. PHẠM CÔNG KHÂM
Giám đốc Trường Chính trị Kiên Giang
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS