Diễn đàn
Đổi mới công tác cán bộ
11:24' 19/9/2006


Tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng ta đánh giá “Công tác cán bộ có đổi mới một số nội dung và cách làm. Đã giữ vững và thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng hơn việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu các tổ chức; bước đầu tổ chức để nhân dân tham gia ý kiến vào công tác cán bộ, nhất là ở cơ sở(1). Trên thực tế, công tác cán bộ đã được triển khai một cách khá đồng bộ ở tất cả các khâu, được Đảng xác định rõ: đánh giá cán bộ là tiền đề, quy hoạch cán bộ là nền tảng, luân chuyển cán bộ là khâu đột phá và đào tạo, bồi dưỡng vừa là yêu cầu trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài.

Đánh giá cán bộ đã trở thành công việc thường xuyên của các cấp, các ngành; được cụ thể hoá thành các nguyên tắc, các căn cứ, tiêu chuẩn, có quy trình và phương pháp đánh giá đối với từng đối tượng cụ thể; từng bước xác định cụ thể, rõ ràng hơn trách nhiệm, thẩm quyền và cách giải quyết các mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân trong quá trình đánh giá cán bộ. Đánh giá cán bộ được tiến hành dân chủ, khách quan và toàn diện hơn trước. Về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ: Đổi mới về nội dung và cách làm, thông qua quy hoạch, bước đầu xây dựng được một đội ngũ cán bộ hợp lý hơn về cơ cấu và chất lượng được nâng lên trên nhiều mặt. Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, khắc phục cơ bản những hạn chế, yếu kém của công tác cán bộ như: Tình trạng cục bộ địa phương, khép kín, hẫng hụt, bị động chắp vá trong công tác cán bộ; tâm lý bảo thủ, trì trệ, tình trạng suy thoái và các biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận cán bộ; góp phần kịp thời bổ sung, điều chỉnh cơ cấu đội ngũ và bảo đảm cho việc bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý hơn, tăng cường được cán bộ cho những nơi có nhu cầu cấp bách; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách cán bộ về nhiều mặt. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, các cấp uỷ, tổ chức đảng đã chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo, chỉ đạo sát hơn công tác này từng bước khắc phục tình trạng đào tạo không theo quy hoạch; tăng cường các lớp đào tạo cán bộ nguồn, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ trẻ, cán bộ xuất thân từ công nhân, bồi dưỡng kiến thức mới đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo. Nhờ đó, chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã từng bước được nâng lên. Trong bố trí, sử dụng cán bộ, đã chú ý kết hợp giữa các độ tuổi, các loại, các lớp cán bộ, không trẻ hoá đội ngũ một cách hình thức, xem nhẹ tiêu chuẩn, lấy mục tiêu là bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị. Chính sách bảo đảm vật chất, động viên tinh thần từng bước được cải tiến phù hợp với tình hình mới.

Những thành công của công tác tổ chức, cán bộ đã góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn của 20 năm đổi mới: Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tâng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện... Đội ngũ cán bộ sau 20 năm đổi mới ngày càng được củng cố, phát triển và lớn mạnh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Đã có sự kế tiếp 3 độ tuổi; đã, đang xuất hiện nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Ngày càng có nhiều hơn cán bộ nữ tham gia trong các cấp uỷ đảng và ở tất cả các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về số lượng và chất lượng; nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số được tín nhiệm bầu vào những cương vị trọng yếu trong các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Trình độ của đội ngũ cán bộ cũng ngày một nâng cao. Nếu khóa IX có 138/150 (92%) số uỷ viên Trung ương có trình độ đại học trở lên thì đến khoá X là 174/181 (96,13%). Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ lý luận chính trị (LLCT) từ trung cấp đến cao cấp ngày càng tăng. Nếu khoá VIII, số uỷ viên Trung ương có trình độ LLCT từ cao cấp trở lên chiếm 88,23%, thì đến đầu Đại hội X là 97,23%. Nhiệm kỳ 2001-2005, số uỷ viên ban chấp hành tỉnh (thành) uỷ có trình độ LLCT sơ cấp chỉ còn 0,19%, trung cấp 1,96%; trình độ cao cấp, cử nhân chính trị chiếm 97,72% (tăng 10,96% so với nhiệm kỳ trước).

Bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng ta cũng chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục, nhất là việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thực hành dân chủ và chế độ trách nhiệm trong công tác; chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ; chưa kiên quyết và thiếu những quy chế có hiệu lực để sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, chưa thay thế kịp thời những cán bộ yếu kém về phẩm chất và năng lực, để công việc trì trệ (hầu như chỉ khi cán bộ bị kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật mới thay thế được); chưa có chính sách đủ hiệu lực để khơi dậy tài năng và thu hút nhân tài vào các lĩnh vực quan trọng; chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở các địa phương, ngành. Công tác đánh giá và quản lý cán bộ vẫn là khâu yếu nhất: Cách đánh giá cán bộ còn chung chung, thiếu cụ thể, hình thức, máy móc, thiếu khoa học… không ít tổ chức và người lãnh đạo nắm không chắc, đánh giá không trúng, thiếu khách quan, thành kiến, hẹp hòi, định kiến, vẫn còn tình trạng phe cánh, bè phái, cục bộ, vụ lợi(2). Công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ còn bộc lộ không ít những hạn chế, khuyết điểm: Một số địa phương, bộ, ngành chưa thực hiện đúng theo tinh thần của Trung ương; chưa có sự thống nhất, liên thông giữa quy hoạch cán bộ khối đảng, đoàn thể và khối quản lý nhà nước, dẫn tới việc nắm các quan điểm, nguyên tắc, tiêu chuẩn, phương pháp, quy trình chưa chắc, chưa vững, chưa thông suốt trong đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt nói riêng; nhầm lẫn giữa quy hoạch cán bộ với công tác nhân sự nên lúng túng về cách làm; trong quy hoạch chưa thực hiện tốt một nội dung cơ bản là phát hiện, bồi dưỡng và sử dụng người tài; nhận thức, cách làm và kết quả quy hoạch rất khác nhau giữa các nơi. Hạn chế đáng quan tâm hiện nay là còn để tình trạng lãng phí nguồn nhân lực tài năng. Không ít người tài, có năng lực thực sự chưa được phát hiện, tiến cử và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý còn không ít tồn tại, hạn chế: Một số cấp ủy và tổ chức đảng chưa tạo được sự thống nhất về nhận thức và quyết tâm trong hành động; triển khai chậm và không đồng đều giữa các vùng, ngành, địa phương, đơn vị; một số nơi chưa tích cực xây dựng quy hoạch cán bộ nên chưa có cơ sở để luân chuyển hoặc luân chuyển cán bộ không dựa trên quy hoạch; có sự lẫn lộn giữa luân chuyển cán bộ với điều động, bố trí và sắp xếp cán bộ; giữa luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý với bố trí công tác đối với cán bộ chuyên môn; một số nơi, do tư tưởng cục bộ, bản vị, tâm lý khép kín nên kém nhiệt tình ủng hộ hoặc ủng hộ nhưng nửa vời, không chủ động tạo điều kiện thuận lợi để người cán bộ được luân chuyển đến địa phương, cơ quan, đơn vị mình hoàn thành tốt nhiệm vụ; còn trường hợp người đứng đầu địa phương, ngành, đơn vị... đã lợi dụng việc luân chuyển cán bộ để “đẩy” những người không hợp gu, không thuộc phe cánh của mình đi nơi khác, hoặc lợi dụng việc luân chuyển để hợp thức hóa sự đề bạt, thăng cấp cho những cán bộ thuộc “cánh hẩu” của mình... Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa thật gắn chặt với quy hoạch cán bộ; nội dung, chương trình tuy có đổi mới nhưng còn chậm, thiếu nhiều loại tri thức hiện đại và kỹ năng cần thiết đối với từng chức danh cán bộ; cơ cấu và thời lượng của các môn học chưa hợp lý; phương thức đào tạo, phương pháp giảng dạy chưa kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa nâng cao tri thức với rèn luyện đạo đức và phương pháp công tác; chưa phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học; sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và các cấp ủy cử cán bộ đi học và cơ quan quản lý cán bộ trong việc theo dõi, quản lý học tập và bố trí công tác cho cán bộ sau khi ra trường còn nhiều hạn chế. Chính sách đối với cán bộ, nhất là chính sách về tiền lương, nhà ở, phương tiện đi lại, điều kiện làm việc... còn nhiều bất hợp lý, thiếu công bằng, thực hiện chưa thống nhất và đồng bộ; chưa tạo được động lực và phát huy tài năng, chưa khuyến khích những cán bộ công tác ở cơ sở, ở những vùng khó khăn; chưa đánh giá và sử dụng đúng mức đội ngũ cán bộ trí thức, các nhà khoa học đầu đàn...

Những hạn chế, yếu kém trên của công tác cán bộ là một nguyên nhân dẫn tới một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Tuổi trung bình của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp vẫn còn cao. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp uỷ đảng tăng chưa bền vững. Trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ nhìn chung là còn hạn chế; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ không đồng đều giữa các vùng, các địa phương. Đáng chú ý là, trước những mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, một bộ phận cán bộ đã tha hóa, biến chất, tham nhũng, quan liêu...

Để xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, chất lượng cao, có tính kế thừa và phát triển, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ cách mạng cả trước mắt và lâu dài, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với công tác cán bộ; trên cơ sở đó tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, tạo sự chuyển biến cơ bản, vững chắc cả trong tư duy và nội dung, hình thức tiến hành công tác cán bộ.

Trước hết, tăng cường cơ sở khoa học trong công tác tổ chức, cán bộ. Vừa tuân theo những nguyên tắc, quy luật chung, vừa đạt đến độ có cái riêng, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý, phải có tài nghệ dùng người.

Hai là, tiếp tục có biện pháp mạnh mẽ kiện toàn hệ thống các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ. Cần có các cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ vừa có tâm, vừa đủ tầm.

Ba là, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các quy chế, quy định nhằm mở rộng và phát huy dân chủ, thực hiện công khai trong công tác cán bộ, nhằm làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, thực sự có tính khoa học, tránh được tình trạng tuỳ tiện, áp đặt chủ quan, duy tình trong công tác cán bộ.

Xây dựng và hoàn thiện chế độ bầu cử, cơ chế bổ nhiệm và miễn nhiệm cán bộ, mở rộng quyền đề cử và tự ứng cử; giới thiệu nhiều phương án nhân sự để lựa chọn; xây dựng cơ chế để Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội về công tác tổ chức, cán bộ.

Bốn là, đổi mới đồng bộ công tác cán bộ ở tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và chính sách cán bộ.

- Đổi mới quan điểm, phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ; bảo đảm đánh giá công khai, minh bạch, trung thực, khách quan, toàn diện; lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu.

-  Đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ. Đối với cán bộ diện quy hoạch đào tạo lâu dài, cần xem xét lựa chọn nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch là những người ưu tú trong công nhân trẻ, công chức trẻ, trong sinh viên xuất sắc đã tốt nghiệp, trong lực lượng vũ trang. Định kỳ lựa chọn bổ sung cán bộ đủ tiêu chuẩn, có triển vọng đưa vào diện quy hoạch. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, bộ máy phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài; xây dựng, cụ thể hoá tiêu chuẩn các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành làm cơ sở cho công tác phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo và bố trí, sử dụng cán bộ.

- Tiếp tục thực hiện có kết quả chủ trương luân chuyển cán bộ, tạo sự thống nhất cao về mặt nhận thức và quyết tâm hành động của các cấp, các ngành và nhân dân về ý nghĩa, mục đích, yêu cầu của luân chuyển cán bộ; thực hiện luân chuyển trên cơ sở quy hoạch; giải quyết tốt mối quan hệ giữa luân chuyển, điều động và tăng cường cán bộ; kết hợp hài hòa giữa luân chuyển với ổn định đội ngũ cán bộ; nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ được luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ luân chuyển hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng: Đổi mới, cập nhật kiến thức trong giảng dạy; đổi mới cách dạy, cách học, phát huy tính tích cực của học viên, vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn; đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của các giảng viên và học viên, đóng góp vào việc tổng kết, xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ (chú trọng về phẩm chất đạo đức và kiến thức, lý luận và thực tiễn, kỹ năng và thực hành); thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo các tiêu chuẩn chức danh; lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với từng loại cán bộ; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hệ thống các trường chính trị, trường hành chính, trường đoàn thể.

- Các cấp uỷ đảng căn cứ vào tiêu chuẩn, sự tín nhiệm, xem xét giới thiệu để bầu cử hoặc bổ nhiệm những người thực sự có đức, có tài, tâm huyết với đất nước, năng động, sáng tạo, có ý tưởng mới vào các chức vụ trong cơ quan nhà nước các cấp, không phân biệt người ngoài Đảng hay trong Đảng.

- Đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần cho từng loại cán bộ, trước hết là chế độ tiền lương, nhà ở và phương tiện đi lại, bảo đảm để cán bộ, công chức an tâm công tác, tận tâm với công việc; có chính sách, quy chế tôn vinh những người có đức, có tài, có tâm huyết; phát huy, sử dụng tốt tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức và tầng lớp doanh nhân không phân biệt là đảng viên hay người ngoài Đảng. Đi đôi với khuyến khích lợi ích vật chất, cần quan tâm giáo dục mục tiêu, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, tạo động lực để cán bộ luôn luôn muốn phấn đấu vươn lên.

Năm là, sớm xây dựng chiến lược tiến cử, trọng dụng nhân tài. Cần quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với việc tiến cử, trọng dụng và khéo sử dụng nhân tài; có cơ chế để nhân dân tiến cử hiền tài; có chế độ thưởng phạt công tâm và khách quan. Từng bước hình thành chế độ cạnh tranh nhân tài; có chế độ thi tuyển khách quan, bình đẳng nhằm lựa chọn được những người thật sự có đủ đức, đủ tài ra phục vụ Tổ quốc và nhân dân.

Sáu là, tiếp tục cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ.

____

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG, H.2006, tr.266-267, 271-272. (2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, NXBCTQG, H.2002, tr.167-168.
TRẦN HẬU THÀNH
Ban Tổ chức Trung ương
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 4 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS