Diễn đàn
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, thành phố
15:58' 10/7/2006


Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ. Hiện nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt (uỷ viên ban chấp hành) cấp tỉnh, thành phố gồm 3.158 đồng chí là những cán bộ lãnh đạo quan trọng, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị.

Chủ trương trẻ hoá đội ngũ cán bộ của Đảng bước đầu được thực hiện đã nâng tỷ lệ cán bộ trẻ lên đáng kể nhưng chưa có bước đột phá. Tuổi bình quân của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố nhiệm kỳ 1986-1990: 48,5, nhiệm kỳ 1991-1995: 48,2, nhiệm kỳ 1996-2000: 48,7, nhiệm kỳ 2001-2005: 49,3. Sang nhiệm kỳ 2005-2010 là 49,32(*), cao hơn khóa trước 0,02%. Tỷ lệ cấp ủy viên ở độ tuổi dưới 40 trung bình trong toàn quốc vẫn còn thấp, chỉ đạt trên 3,04% trong cơ cấu ban chấp hành, thấp hơn khóa trước (khóa trước 5,39%), Thậm chí còn một số đảng bộ không có cấp ủy viên dưới 40 tuổi; có một số đồng chí mặc dù tuổi đã cao vẫn tiếp tục tái cử. Nhiệm kỳ 2005-2010 chỉ có 9/64 đảng bộ tỉnh, thành uỷ, có số ủy viên ban chấp hành trẻ dưới 40 đạt từ 6% trở lên.

Tỷ lệ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nước ta những năm gần đây cũng tăng nhưng ở cấp tỉnh, thành phố, số cán bộ nữ chủ chốt chiếm không đáng kể. Đáng lưu ý là trong các vị trí lãnh đạo chủ chốt như bí thư, phó bí thư, uỷ viên thường vụ thì phụ nữ lại càng ít, đặc biệt là chức vụ bí thư tỉnh uỷ khoá 2001-2005 giảm nhiều so với khoá 1996-2000 (1,6% so với 8,3%). Theo thống kê, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia ban chấp hành nhiệm kỳ 1986-1990: 10,3, nhiệm kỳ 1991-1995: 9,5, nhiệm kỳ 1996-2000: 11,2, nhiệm kỳ 2001-2005: 11,32%. Sang nhiệm kỳ 2005-2010 có 371 đồng chí, chiếm 11,74%, tăng 0,42% so với nhiệm kỳ 2001-2005 và đều tăng hơn so với các nhiệm kỳ trước đây. Tuy nhiên so với yêu cầu đề ra là 15% vẫn chưa đạt được. Trong nhiệm kỳ 2005-2010, chỉ có bảy đảng bộ tỉnh, thành phố có tỷ lệ nữ đạt từ 15% trở lên.

Cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố là người dân tộc thiểu số có tăng nhưng không ổn định: Nhiệm kỳ 1986-1990: 13,6%; nhiệm kỳ 1991-1995: 14,8%; nhiệm kỳ 1996-2000: 14,2%; nhiệm kỳ 2001-2005: 13,56%, nhiệm kỳ 2005-2010 là 13,43%. Như vậy, trong những nhiệm kỳ gần đây tỷ lệ ủy viên ban chấp hành đảng bộ tỉnh là người dân tộc thiểu số đang có xu hướng giảm, nhiệm kỳ 2001-2005 có 382 đồng chí, chiếm 13,56% (giảm 0,64% so với nhiệm kỳ trước). Sang nhiệm kỳ 2005-2010, có 424 đồng chí, chiếm 13,43% (giảm 0,77% so với nhiệm kỳ trước và giảm 1,37% so với nhiệm kỳ trước đó). Tuy vậy, dấu hiệu đáng mừng là tỷ lệ cấp ủy viên là người dân tộc thiểu số tại các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số bằng và cao hơn khóa trước. Điều này rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng của các tỉnh miền núi và an ninh, chính trị của đất nước.

Trình độ lý luận chính trị (LLCT), quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh tăng rõ rệt: Trình độ LLCT của cấp ủy viên tỉnh, thành ủy nhiệm kỳ 2005-2010 đều tăng cao hơn khóa trước. Trong nhiệm kỳ 2001-2005, số cán bộ có trình độ trung cấp LLCT là 311 đồng chí, chiếm 11,04%, trình độ cao cấp, cử nhân chính trị: 2.445 đồng chí, chiếm 86,76%. Sang nhiệm kỳ 2005-2010, số ủy viên ban chấp hành tỉnh, thành uỷ có trình độ sơ cấp LLCT 6 đồng chí, chiếm 0,19%; trung cấp LLCT 62 đồng chí, chỉ chiếm 1,99% (giảm 9,08% so với nhiệm kỳ trước), trình độ cao cấp, cử nhân chính trị 3.086 đồng chí, chiếm 97,72% (tăng 10,96% so với nhiệm kỳ trước). Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố nói riêng đã đạt được nhiều chỉ tiêu yêu cầu cơ bản về kiến thức quản lý nhà nước, quản lý kinh tế. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, thành phố không ngừng tăng. Trong nhiệm kỳ 2001-2005, số ủy viên ban chấp hành tỉnh, thành uỷ có trình độ trung cấp 169 đồng chí, chiếm 6%; trình độ cao đẳng, đại học 1.966 đồng chí, chiếm 69,77%; trình độ trên đại học 202 đồng chí, chiếm 7,17%. Sang nhiệm kỳ 2005-2010, số ủy viên ban chấp hành tỉnh, thành uỷ có trình độ trung cấp giảm còn 90 đồng chí, chiếm 2,85% (giảm 3,15% so với nhiệm kỳ trước), trình độ cao đẳng, đại học 2.410 đồng chí, chiếm 76,31% (tăng 6,54% so với nhiệm kỳ trước), trình độ trên đại học 469 đồng chí, chiếm 14,85% (tăng 7,68% so với nhiệm kỳ trước).

Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm, trình độ kiến thức, năng lực chưa đáp ứng với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; trình độ ngoại ngữ, tin học còn hạn chế, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ không đồng đều giữa các vùng, các địa phương. Hiện tại, số cán bộ có học hàm, học vị cao tập trung nhiều ở các thành phố lớn, trong khi đó ở các địa phương, nhìn chung số cán bộ có học hàm, học vị cao còn ít.

Thực tiễn hiện nay đòi hỏi cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh nói riêng phải có đầy đủ các yếu tố phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực trí tuệ và năng lực hành động. Đảng ta nhấn mạnh: Xây dựng đội ngũ cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ CNH, HĐH, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên theo định hướng XHCN. Bảo đảm có đủ nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thể đổi mới khoảng 30%-40% số cán bộ chủ chốt. Để thực hiện chủ trương trên, cần phải tiến hành tổ chức thực hiện những giải pháp đồng bộ và có tính khả thi cao.

1. Trước hết phải xây dựng đội ngũ cán bộ và kiện toàn hệ thống các cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ đủ năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Cần có cơ chế, chính sách, biện pháp cụ thể xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ tuyệt đối trung thành với mục tiêu và lý tưởng của Đảng, trung thực, liêm chính, công tâm, khách quan; có khả năng nhận biết, đánh giá con người và khả năng phát hiện hiền tài cho đất nước.

2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy trình công tác cán bộ.

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy trình công tác cán bộ nhằm làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, thực sự có tính khoa học, bảo đảm cho công tác cán bộ hoạt động thống nhất theo nguyên tắc, chuẩn mực chung. Tránh tình trạng tuỳ tiện, áp đặt chủ quan trong công tác cán bộ và là cơ sở để các cấp uỷ đảng, cơ quan tổ chức cán bộ quản lý, kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình theo quy định chung.

3. Xây dựng, cụ thể hoá tiêu chuẩn các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp làm cơ sở cho công tác phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch đào tạo và sử dụng cán bộ có năng lực lãnh đạo, quản lý.

Căn cứ vào tiêu chuẩn chung đã được Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) nêu ra và được bổ sung, cụ thể hóa tại Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX và những điểm mới trong Nghị quyết Đại hội X để xây dựng, cụ thể hoá các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp làm cơ sở cho công tác phát hiện, tuyển chọn, quy hoạch đào tạo và sử dụng cán bộ có năng lực lãnh đạo, quản lý.

4. Đổi mới quan điểm, phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ, coi đánh giá cán bộ là khâu quan trọng đầu tiên trong công tác cán bộ.

Đánh giá cán bộ phải bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, trung thực, khách quan, toàn diện; phải lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu. Tiếp tục rà soát, bổ sung tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý phù hợp với từng ngành, từng địa phương. Căn cứ kết quả nhận xét, đánh giá cán bộ để có kế hoạch sắp xếp, quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, sử dụng hợp lý.

5. Đổi mới công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Trước hết cần rà soát lại quy hoạch, căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh đã xây dựng mà đánh giá lại thực chất mặt mạnh, mặt yếu và triển vọng của đội ngũ và từng người. Qua đó đưa ra khỏi diện quy hoạch những cán bộ không đủ tiêu chuẩn. Đồng thời đánh giá, lựa chọn, bổ sung cán bộ đủ tiêu chuẩn, có triển vọng vào diện quy hoạch. Đối với cán bộ diện quy hoạch đào tạo lâu dài, cần xem xét lựa chọn nguồn cán bộ đưa vào quy hoạch lâu dài là những người ưu tú trong công nhân trẻ, công chức trẻ, trong sinh viên xuất sắc đã tốt nghiệp, trong lực lượng vũ trang có triển vọng để trước mắt đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở và trên cơ sở tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nghiên cứu, triển khai dự án “Thí điểm đào tạo nguồn nhân lực tài năng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước”; nghiên cứu đề xuất chính sách thu hút sinh viên xuất sắc tốt nghiệp đại học về công tác ở cơ sở nhằm tạo nguồn cán bộ đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

Triển khai Kết luận của Bộ Chính trị (khóa IX) về việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý.

6. Tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị theo hướng đổi mới, cập nhật kiến thức; đổi mới cách dạy, cách học, phát huy tính tích cực của học viên, vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn của các giảng viên và học viên, đóng góp vào việc tổng kết, xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.

Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Chú trọng cả về phẩm chất đạo đức và kiến thức, lý luận và thực tiễn, kỹ năng và thực hành. Yêu cầu về tiêu chuẩn phẩm chất, năng lực, về đức và tài của người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn thống nhất với yêu cầu tiêu chuẩn về nhân cách và uy tín của họ. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo các tiêu chuẩn chức danh. Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo với nội dung thiết thực phù hợp với từng loại cán bộ. Tiếp tục triển khai các lớp bồi dưỡng kiến thức mới đối với diện Trung ương quản lý. Xây dựng và triển khai kế hoạch cử cán bộ đi nghiên cứu, học tập trao đổi kinh nghiệm tiên tiến ở nước ngoài.

Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hệ thống các trường chính trị, trường hành chính, trường đoàn thể. Khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên tự học tập, tự rèn luyện.

7. Tăng cường công tác tư tưởng; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trước hết đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, giáo dục rèn luyện cán bộ để mỗi cán bộ thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng; thường xuyên học tập, quán triệt, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách đạo đức của cán bộ; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm những cán bộ vi phạm qui định về trách nhiệm, phẩm chất, đạo đức, lối sống n

_____

(*) Theo thống kê của Ban Tổ chức Trung ương về kết quả đại hội đảng bộ 64 tỉnh, thành phố.
TRẦN HẬU THÀNH
Ban Tổ chức Trung ương
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS