1. Chủ trương mới.
Trước Đại hội X của Đảng, vấn đề đảng viên có được làm kinh tế tư nhân (KTTN) hay không được đảng viên và các cấp ủy quan tâm và có rất nhiều ý kiến khác nhau. ở đại hội đảng bộ cấp tỉnh, thành phố có 85% số đại biểu tán thành; Ban Chấp hành Trung ương khóa IX biểu quyết có 88,35% số ủy viên tán thành. Đại hội X có 87,6% số đại biểu tán thành.
2. Quy định mới.
Ngày 28-8-2006, Trung ương ban hành Quy định số 15-QĐ/TW về đảng viên làm KTTN. Trong đó đáng chú ý là:
- Đảng viên làm KTTN phải trực tiếp tham gia lao động.
- Đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân, bên cạnh việc tuân theo những quy định chung còn phải có trách nhiệm với người lao động trong doanh nghiệp, trách nhiệm với Nhà nước và xã hội; trách nhiệm với tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp.
- Đảng viên đang là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan đơn vị Công an nhân dân Việt Nam, cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác) được làm và không được làm những việc sau đây:
1. Không được thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp, bệnh viện tư, trường học tư, tổ chức nghiên cứu khoa học tư.
2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
3. Không được làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, dịch vụ và tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc tham gia giải quyết.
4. Không được mượn danh nghĩa người khác để sản xuất, kinh doanh, không được để vợ, chồng, con lợi dụng chức vụ, quyền hạn và uy tín của mình để làm KTTN.
Được góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, mua cổ phần của công ty cổ phần, mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán, trừ trường hợp quy định tại khoản 2, Điều 3.
Quy định số 15-QĐ/TW còn quy định trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và điều khoản thi hành.
Đó là những quy định hết sức cần thiết và kịp thời. Để thực hiện tốt chủ trương và quy định của Đảng, chúng tôi xin được trao đổi và kiến nghị mấy điểm sau:
- Về đối tượng đảng viên là “cán bộ, công chức, viên chức”, nếu viết như Quy định ở Điều 3 thì chúng tôi hiểu là cả cán bộ thôn, xóm, khu dân cư và tất cả các cán bộ cứ hưởng lương, phụ cấp từ kinh phí của Đảng hoặc ngân sách của Nhà nước đều nằm trong đối tượng điều chỉnh này. Nghĩa là đều bị hạn chế quyền làm KTTN.
Viết như Quy định còn cấm cả đối tượng là viên chức tư (vì viên chức gồm viên chức công và viên chức tư). Mặt khác, viết như vậy là trùng ngay với cả đoạn sau của điều này, vì những người làm việc trong quân đội, công an và một số trong doanh nghiệp nhà nước cũng là cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước ta.
Cho nên, theo chúng tôi, chỉ nên hạn chế quyền làm KTTN của những cán bộ, công chức được điều chỉnh trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức hiện hành, vì chỉ những cán bộ ấy mới có liên quan đáng kể đến quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước, do đó mới cần phải cấm hoặc hạn chế để tránh sự lạm dụng. Vì vậy, nên chăng cần bổ sung thêm vào đối tượng thứ nhất được điều chỉnh trong Điều 3 của Quy định này: Đảng viên đang là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ công chức.
- Tại khoản 5, Điều 3, Quy định số 15-QĐ/TW cho phép đảng viên là cán bộ công chức “được góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn”.
Như chúng ta đã biết, theo điểm b, khoản 2, Điều 13 Luật Doanh nghiệp; theo Điều 17 Pháp lệnh Cán bộ, công chức và ngay khoản 1, Điều 3 của Quy định 15 chỉ cấm “cán bộ, công chức, viên chức không được thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý doanh nghiệp” còn hành vi góp vốn không nói đến có cấm hay không? Vì vậy phải dựa vào đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp mà có quy định cụ thể. Có loại doanh nghiệp thì cấm cả ba hành vi: Thành lập, quản lý, góp vốn. Có loại không cấm hành vi góp vốn.
Ví dụ, đối với công ty hợp danh thì cán bộ, công chức, viên chức được góp vốn và trở thành thành viên góp vốn vì thành viên góp vốn trong công ty hợp danh có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty. Cho nên nếu đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức được góp vốn vào công ty hợp danh cũng không trái với các quy định trên.
Đối với công ty cổ phần thì đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức cũng được mua cổ phần với tư cách là cổ đông. Họ không là người quản lý doanh nghiệp.
Nhưng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn thì lại khác, người góp vốn mặc nhiên trở thành thành viên hội đồng thành viên và được coi là người quản lý công ty. Cho nên, quy định đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức được góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn như khoản 5, Điều 3 nói trên là không phù hợp với các văn bản pháp luật đã viện dẫn, cũng không phù hợp với Điều 4 của Hiến pháp hiện hành.
Do đó, chúng tôi kiến nghị nên chuyển hành vi góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn từ mục những việc được làm (khoản 5, Điều 3) lên mục trên hoặc tách riêng thành mục việc không được làm.
Cho phép đảng viên được làm KTTN là một việc lớn trong quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta. Tuy nhiên, việc này cần phải có hướng dẫn chặt chẽ, cụ thể để tránh lúng túng trong tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp cơ sở.