Sinh hoạt đảng
Khờ dại
8:38' 16/9/2008


Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: “Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình. Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu, tự đại là thoái bộ”(1). Theo Người, tự kiêu, kiêu ngạo, tự cao, tự đại là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trái với đạo đức cách mạng. Người phê phán “Ai tự cho mình có công trạng mà tự kiêu, tự đại là không đúng. Lòng của người cách mạng chân chính là phải rộng rãi như sông như bể, có như thế thì mới tiến bộ”(2); “Nếu có một chút công trạng gì mà tự cao, tự đại, coi người ta không ra gì, thế là sai, thế là cái ruột nhỏ, ví như cái cốc, một gáo nước đổ vào thì tràn hết”(3).

Người chỉ ra những người mắc bệnh kiêu ngạo thường chủ quan, cho rằng cái gì mình cũng giỏi hơn người khác: “Còn những đồng chí hay có tính kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, cho mình là cựu đồng chí, cựu chính trị phạm thì giỏi hơn ai hết”(4). Điều này trái với phong cách của người lãnh đạo là phải sâu sát, khiêm tốn lắng nghe, học hỏi quần chúng để tích hợp thông tin, kiến thức để xử lý công việc trong thực tiễn đạt kết quả tốt. Kiêu ngạo, tự đại sớm muộn sẽ dẫn tới công thần, cho mình có nhiều công lao, đóng góp. Người chỉ rõ “Vì bệnh công thần nên sinh ra nhiều cái thiếu: Thiếu tính tổ chức, thiếu tính kỷ luật... Vì vậy chúng ta phải chống lại bệnh cá nhân, bệnh công thần”(5). Hệ quả của bệnh công thần rất nguy hiểm, dẫn tới một số cán bộ, đảng viên coi thường kỷ cương phép nước, kỷ luật của Đảng. “Có những người cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ”(6). Sinh thời Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ. Bên cạnh việc theo dõi sát sao, cổ vũ, động viên, biểu dương những cán bộ luôn vì cái chung, luôn là “đày tớ” gắn bó với quần chúng, Người cũng theo dõi, nhận dạng chỉ rõ số cán bộ có biểu hiện quan liêu, hách dịch, kiêu ngạo: “Khi phụ trách ở một vùng nào thì như một ông “vua con” ở đấy, tha hồ hách dịch, hoạnh hoẹ. Đối với cấp trên thì xem thường, đối với cấp dưới cậy quyền, lấn áp. Đối với quần chúng ra vẻ quan cách làm cho quần chúng sợ hãi... làm cho cấp trên xa cấp dưới, Đoàn thể xa nhân dân”(7).

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (10- 1947), Hồ Chí Minh đã chỉ ra 12 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trong đó có “Bệnh kiêu ngạo - Tự cao tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng, không muốn cho người ta phê bình”(8). Theo Hồ Chí Minh, quần chúng nhân dân rất thông minh, hiến kế rất nhanh mà có khi những “đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra”, thế mà có những người nhiễm căn bệnh kiêu ngạo dẫn tới coi khinh quần chúng: “Có người thường cho dân là dốt không biết gì, mình là thông thái tài giỏi. Vì vậy, họ không thèm học hỏi dân chúng, không thèm bàn bạc với dân chúng. Đó là một sai lầm nguy hiểm lắm. Ai có sai lầm đó, phải mau mau sửa đổi”(9). Quan liêu, tự cao tự đại sẽ dẫn tới xa rời quần chúng, không quy tụ được sức mạnh trí tuệ của đội ngũ cán bộ dưới quyền, không nắm được chủ trương, nghị quyết đi vào cuộc sống như thế nào, không nắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng ra sao. Điều cực kỳ nguy hiểm mà V.I.Lênin đã từng cảnh báo đối với đảng cầm quyền là cắt đứt mối liên hệ máu thịt với quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh khái quát vấn đề mang tính quy luật đặt ra cho mỗi cán bộ, đảng viên phải suy nghĩ: “Từ xưa đến nay, quần chúng không bao giờ tin cậy và yêu mến những kẻ tự cao, tự đại, những kẻ có óc lãnh tụ, tự xưng ta đây là anh hùng lãnh tụ”(10).

Hồ Chí Minh đã xác định chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân gây ra bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại. Bởi theo Người, chủ nghĩa cá nhân là một thứ gian giảo, xảo quyệt, khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc. Người nói: “Có một số ít đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại”(11). “Vì chưa gột sạch chủ nghĩa cá nhân, cho nên có đảng viên còn “kể công” với Đảng. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị”(12). Tóm lại, theo Bác, do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô... Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền.

Thấy rõ những hệ quả, di hại của căn bệnh nêu trên, Bác rất coi trọng các biện pháp khắc phục, mong muốn giúp mỗi cán bộ, đảng viên trở thành những “công bộc” của nhân dân. Người yêu cầu “Mỗi một đồng chí ta phải có thái độ khiêm tốn, càng cựu, càng giỏi, càng phải khiêm tốn, phải có lòng cầu tiến bộ”(13); “Càng có công lao, càng phải khiêm tốn, gần gũi giúp đỡ người khác, chứ vác mặt lên trời, làm quan cách mạng, lão thành cách mạng thì không ăn thua gì”(14). Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, bởi đạo đức định hướng cho phát triển tài năng, phòng tránh các tiêu cực, căn bệnh tự kiêu, tự đại. Các tổ chức đảng phải tăng cường giáo dục Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh để nâng cao tính đảng, lập trường cách mạng, giác ngộ lý tưởng XHCN, tận tuỵ hết lòng phục vụ nhân dân. Đối với nước ta từ một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH, “một đảng mới từ trong xã hội cũ bước ra”(15) càng phải quan tâm giáo dục nâng cao đạo đức cách mạng để đẩy lùi căn bệnh tự kiêu, tự đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Thường xuyên coi trọng tự phê bình và phê bình - đây là thang thuốc hay nhất để phát huy ưu điểm, gột rửa những mặt xấu; “không để nhiều sai lầm nhỏ cộng thành sai lầm to”(16). Hồ Chí Minh khẳng định: “Không chịu nghe phê bình và không tự phê bình thì nhất định lạc hậu, thoái bộ. Lạc hậu và thoái bộ thì sẽ bị quần chúng bỏ rơi”(17). Mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện lời chỉ dẫn của Bác “luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình”(18).

Hồ Chí Minh quan tâm đến việc tăng cường quản lý, giữ nghiêm kỷ luật, ghép mình vào tổ chức. Người kết luận: “Tất cả cán bộ, đảng viên phải giữ tính kỷ luật, tính tổ chức. Nhớ rằng không có việc gì làm ngoài tổ chức, ngoài kỷ luật mà thành công”(19). Người cũng rất kiên quyết với những cán bộ, đảng viên mắc bệnh kiêu ngạo, tự cao, tự đại mà không sửa chữa: “Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ”(20). Nếu không tăng cường giáo dục và kỷ luật, không đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân biểu hiện dưới các dạng thức khác nhau thì một số cán bộ, đảng viên dần dần sẽ “mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”(21).

Những lời nhắc nhở, chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về căn bệnh kiêu ngạo, tự cao tự đại đối với Đảng ta, mỗi cán bộ, đảng viên vẫn còn nguyên giá trị, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về cải cách hành chính, nâng cao đạo đức của cán bộ, công chức, công vụ tận tuỵ phục vụ nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên luôn tự phòng tránh và “Kiên quyết chống bệnh tự mãn, tự túc, tự tư tự lợi, kiêu ngạo, ba hoa”(22) là minh chứng cho phẩm chất nói đi đôi với làm, tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

____

(1,4,6,7,8,9,10,13,15,18,20,22) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 5, tr.643-644, tr.78, tr.286, tr.72, tr.255, tr.295, tr.256, tr.74, tr.263, tr.644, tr.286, tr.268. (2,3,5,14,19) Sđd, tập 8, tr.409, tr.409, tr.409, tr.420, tr.344. (11,12,16,17) Sđd, tập 9, tr.290, tr.289, tr.289, tr.290. (21) Sđd, tập 7, tr.569.
TS. Nguyễn Thế Tư Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
Bài cùng chuyên mục
Tâm sự đảng viên    (18/1/2010)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS