Nâng cao vai trò người đảng viên
7:43' 14/7/2015
Các đảng viên trẻ xuất sắc của Thủ đô Hà Nội được tuyên dương (năm 2012).

Danh hiệu “người đảng viên cộng sản” là sự đánh giá, ghi nhận của quần chúng nhân dân đối với mỗi đảng viên qua hoạt động thực tiễn. Đây là danh hiệu cao quý mà quần chúng nhân dân dành cho những đảng viên của Đảng có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, thường xuyên tu dưỡng rèn luyện, gương mẫu về mọi mặt, hết lòng hết sức vì nước, vì dân. Đây cũng là kết quả của quá trình phấn đấu bền bỉ, không ngừng của mỗi đảng viên, không phải bất cứ ai vào Đảng là có được danh hiệu này.



Yêu cầu đặt ra

Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã yêu cầu chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân cũng như những đảng viên của Đảng phải thực sự tiền phong, qua đó có thể thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản(1).

Kế thừa những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin rất coi trọng chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng, Người luôn đòi hỏi đội ngũ đảng viên phải không ngừng học tập, tu dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được giao, xứng đáng là “người đảng viên cộng sản”. Theo Người: “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không chúng ta cũng không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào Đảng” ra khỏi hàng ngũ của mình, chứ không phải làm tăng thêm số lượng đảng viên, đó chính là đảng chúng ta, đảng của giai cấp công nhân cách mạng(2).

V.I.Lênin cho rằng, Đảng mạnh là nhờ sự giác ngộ của đảng viên, nhờ lòng trung thành của đảng viên với sự nghiệp cách mạng, nhờ tinh thần trách nhiệm cao của họ đối với vận mệnh của Đảng. Do vậy, V.I.Lênin đặc biệt chú ý chăm lo đến danh hiệu cao quý của người đảng viên, đến việc ra sức phát huy tính tích cực và tính sáng tạo của những người cộng sản, đến việc nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ đối với Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người cho rằng để làm cho Ðảng và Nhà nước mạnh lên, lãnh đạo và điều hành kinh tế - xã hội hiệu quả thì cần thường xuyên tiến hành đấu tranh làm trong sạch bộ máy Ðảng và Nhà nước, chống chủ nghĩa quan liêu, tham ô, lạm quyền xâm hại lợi ích của nhân dân.

Tiếp thu và phát triển những quan điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời rất quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên của Đảng. Theo Người: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức(3). Người yêu cầu mỗi đảng viên người đảng viên cần thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; người đảng viên phải “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành, tận tụy của nhân dân”; thực sự tiền phong, gương mẫu trước quần chúng. Đồng thời, “mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật, chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng(4).

Không chỉ yêu cầu mỗi đảng viên phải tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, theo Người: “Muốn xứng đáng với danh hiệu người đảng viên, các cô, các chú phải không ngừng rèn luyện tư tưởng vô sản và giữ vững lập trường vô sản, cố gắng học hỏi để nâng cao trình độ hiểu biết của mình.”(5), tức là mỗi đảng viên phải ra sức học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, học tập vǎn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng và nǎng lực công tác của mình.

Danh hiệu “người đảng viên cộng sản”

Trong suốt 85 năm qua, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Tuyệt đại đa số đội ngũ đảng viên đều hết lòng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Qua bão táp cách mạng, đội ngũ đảng viên được tôi luyện, luôn thể hiện là những người cộng sản kiên trung như các đồng chí Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Ngô Gia Tự, Nguyễn Thị Minh Khai, Tô Hiệu, Nguyễn Đức Cảnh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… Các đồng chí đảng viên đó được nhân dân hết lòng yêu mến.

Hiện nay, đại đa số đảng viên của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và con đường cách mạng; có phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trong sạch, có ý thức tổ chức kỷ luật cao; hăng hái đi đầu trong công cuộc đổi mới, hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Nhiều đảng viên hoạt động trong điều kiện khó khăn đã năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm tr­ước dân, tr­ước Đảng, được quần chúng tin yêu, ca ngợi, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, động cơ phấn đấu vào Đảng của không ít đảng viên thiếu sự trong sáng, đã tìm cách vào Đảng như thêm một “điều kiện cần” để có thể được quy hoạch, bố trí vào các chức danh lãnh đạo. Không ít đảng viên yếu kém về trình độ, nói không đi đôi với làm, không thể hiện được vai trò tiền phong, gương mẫu trước quần chúng. Đồng thời, “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tuỳ tiện, vô nguyên tắc(6). Những đảng viên này đã làm giảm ý nghĩa danh hiệu “người đảng viên cộng sản”, làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít các tổ chức đảng; gây tổn hại tới uy tín của Đảng.

Giải pháp

Một là, tăng cường giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho đội ngũ đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng phải tiến hành giáo dục đội ngũ đảng viên thường xuyên liên tục, gắn với yêu cầu nhiệm vụ, yêu cầu của công tác xây dựng đảng. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức giáo dục sát với từng đối tượng. Nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên phải toàn diện, vừa giáo dục, rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, vừa bồi dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn cho đảng viên.

Hai là, thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng viên , nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên. Nắm vững và thực hiện đúng quy định của Điều lệ Đảng, quy định của Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương về công tác phát triển đảng viên. Coi trọng chất lượng, không chạy theo số lượng, kiên quyết không kết nạp những người không đủ tiêu chuẩn, chưa đủ điều kiện, tín nhiệm thấp vào Đảng. Tuân thủ nghiêm ngặt các khâu, các bước, đảm bảo đúng thủ tục nguyên tắc, nâng cao cảnh giác, kiên quyết không để phần tử xấu, cơ hội tìm cách chui vào Đảng.

Ba là, coi trọng công tác quản lý, đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng quản lý chặt chẽ đội ngũ  đảng viên, nhất là việc rèn luyện đạo đức, lối sống và quan hệ xã hội bản thân và gia đình, quá trình công tác của đảng viên. Kết hợp quản lý đảng viên cả ở nơi công tác và ở nơi cư trú, cả trong giờ làm việc và giờ nghỉ. Kết hợp công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng với công tác thanh tra của Nhà nước và giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội, của quần chúng nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng. Chú trọng công tác đánh giá, nhận xét đảng viên hằng năm.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sàng lọc, đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất. Các tổ chức đảng cần tăng cường kiểm tra, giám sát đội ngũ đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống… Chủ động phối hợp với cấp ủy địa phương để quản lý, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú. Khuyến khích, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia giám sát, đóng góp ý kiến, phê bình cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm minh đối với mọi đảng viên vi phạm kỷ luật, không để tạo ra “khoảng trống” trong xử lý đảng viên.

----------------------------------------

(1) C.Mác-Ph.Ăng-ghen, Toàn tập, tập 4, NXB CTQG, H, 2002, tr.614.

(2) V.I. Lênin, Toàn tập, tập 39, NXB Tiến bộ, M, 1979, tr.225.

(3), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H, 2002, tập 5, tr.552; tập 6, tr.167; tập 12, tr.91.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XI, NXB CTQG, H.2012, tr.22.

Phạm Văn PhongKhoa CTĐ-CTCT, Trường Đại học Chính trị P. Vệ An, TP. Bắc Ninh, Bắc Ninh