VỀ PHÂN CÔNG, BỐ TRÍ CÁN BỘ
Hỏi: Đồng chí A là Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND, uỷ viên Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, chính trị viên quân sự cấp phường, nay có quyết định của Ban Thường vụ Quận uỷ nghỉ điều hành công tác của Bí thư Đảng uỷ và Chủ tịch HĐND phường:
1- Khi thực hiện quyết định của Ban Thường vụ Quận uỷ nghỉ điều hành công tác của Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND thì các chức danh khác như uỷ viên ban thường vụ đảng uỷ, đảng uỷ viên và các chức danh uỷ viên UBMT Tổ quốc, chính trị viên quân sự phường có còn không?
2- Ban Thường vụ Quận uỷ quyết định nghỉ điều hành công tác của Chủ tịch HĐND phường và sau đó, Thường trực HĐND quận cũng có văn bản quyết định đồng chí A nghỉ điều hành công tác thường trực HĐND phường và giao cho phó chủ tịch HĐND phường thực hiện nhiệm vụ của chủ tịch HĐND phường cho đến khi bầu chủ tịch HĐND mới thì có đúng thẩm quyền và đúng Luật bầu cử HĐND không? Nếu những quyết định đó không đúng luật thì đồng chí A có còn là chủ tịch HĐND phường không? Đến cuối năm có phải làm kiểm điểm trước dân và lấy phiếu tín nhiệm không? Đồng chí đó có được quyền bỏ phiếu tín nhiệm cho các chức danh khác không?
3- Quy trình bổ sung đảng uỷ viên, uỷ viên ban thường vụ và bí thư đảng uỷ cơ sở phải tiến hành như thế nào? Văn bản nào của Đảng quy định về tiêu chuẩn cấp uỷ viên? Có ý kiến cho rằng bổ sung các chức danh trên nên chọn trong số các uỷ viên ban chấp hành đảng bộ đương nhiệm, tuổi còn trẻ và không nhất thiết phải có trình độ đại học có đúng không?
TRẦN KHẮC TOẢN
số 85, Ngõ 291, đường Lạc Long Quân, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội
1- Cấp uỷ viên do đại hội cùng cấp bầu. Đồng chí bí thư cấp uỷ do cấp uỷ cùng cấp bầu. Bí thư cấp uỷ thực hiện nhiệm vụ cho đến hết nhiệm kỳ đại hội. Cấp uỷ cấp trên quyết định đình chỉ hoạt động của bí thư cấp uỷ hoặc thôi điều hành của bí thư cấp uỷ trong các trường hợp sau:
- Bí thư cấp uỷ đến tuổi nghỉ hưu, hoặc nghỉ mất sức theo quy định của Luật Lao động.
- Bí thư cấp uỷ chuyển công tác khác ra ngoài đảng bộ.
- Bí thư cấp uỷ vi phạm khuyết điểm nghiêm trọng, mất tín nhiệm trong đảng bộ, tập thể cấp uỷ đề nghị thôi giữ chức để xem xét kỷ luật (hoặc đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ để cơ quan luật pháp xử lý).
- Bản thân cấp uỷ viên tuổi cao sức yếu, sức khoẻ kém hoặc có lý do khác tự nguyện làm đơn xin nghỉ công tác, được cấp uỷ đồng ý.
Nếu không có lý do rõ ràng, không được sự thống nhất của cấp uỷ cấp dưới thì cấp uỷ cấp trên quyết định đình chỉ sinh hoạt hoặc thôi điều hành của bí thư cấp uỷ là không đúng quy định của Điều lệ Đảng.
Trường hợp cấp uỷ cấp trên quyết định thôi bí thư cấp uỷ mà không có quyết định thôi sinh hoạt cấp uỷ thì đồng chí đó vẫn là uỷ viên thường vụ, vẫn còn là cấp uỷ viên.
Đối với các chức danh khác như chủ tịch HĐND, Uỷ viên MTTQ, chính trị viên quân sự phường thuộc thẩm quyền của các cơ quan chức năng đã được quy định trong pháp luật. Nếu là diện cán bộ do cấp uỷ quản lý, cấp uỷ thông báo cho các cơ quan chức năng ý kiến của cấp uỷ để các cơ quan chức năng căn cứ thực hiện theo quy trình cán bộ mà pháp luật đã quy định.
Khi chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì các chức danh trên của cán bộ vẫn còn hiệu lực thi hành.
2- Việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch HĐND theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, tại mục III, Điều 34 và 35 về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp xã, phường, thị trấn quy định:
“… HĐND xã, phường, thị trấn thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ tịch và các thành viên khác của UBND cùng cấp; bãi nhiệm đại biểu HĐND và chấp nhận việc đại biểu HĐND xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu theo quy định của pháp luật.
2- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu”.
Như vậy, việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch, phó chủ tịch HĐND phường phải do HĐND phường quyết định.
Điều 53, Luật Tổ chức HĐND và UBND (năm 2003) quy định nhiệm vụ của thường trực HĐ ND có quyền phê chuẩn kết quả bầu chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên thường trực HĐ ND cấp dưới trực tiếp, nhưng không quy định quyền miễn nhiệm các chức danh đó. Quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm do HĐND cùng cấp thực hiện. Nếu HĐND phường chưa họp để miễn nhiệm chủ tịch HĐND mà thường trực HĐND quận đã quyết định thôi chức chủ tịch HĐND phường là sai quy định của pháp luật.
Chủ tịch HĐND phường khi chưa có quyết định miễn nhiệm của HĐND phường thì vẫn là chủ tịch HĐND, vẫn thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật và đương nhiên cuối năm phải thực hiện việc kiểm điểm trước dân và được quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh khác theo tinh thần Nghị quyết liên tịch số 09/NQLT-CP-UBTWMTTQ Việt Nam ngày 17-4-2008 của Chính phủ, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hướng dẫn của UBND TP Hà Nội về việc làm tự kiểm điểm và lấy phiếu tín nhiệm trước nhân dân đối với các chức danh do HĐND bầu.
3. Quy trình bổ sung cấp uỷ được quy định và hướng dẫn trong các văn bản sau:
+ Về việc bổ sung cấp uỷ viên thiếu, uỷ viên thường vụ, bí thư, phó bí thư...: Điểm (23.1, 23.2, 23.3), Quy định thi hành Điều lệ Đảng số 23-QĐ/TW ngày 31-12-2006 của Bộ Chính trị đã nêu rõ:
“- Khi cần bổ sung cấp uỷ viên thiếu, tập thể cấp uỷ thảo luận, thống nhất đề nghị cấp uỷ cấp trên về số lượng, nhân sự cụ thể để cấp uỷ cấp trên ra nghị quyết. Trường hợp đặc biệt, nếu xét thấy cần cấp uỷ cấp trên có thể ra quyết định bổ sung số cấp uỷ viên thiếu.
- Việc bổ sung cấp uỷ viên, uỷ viên thường vụ, bí thư, phó bí thư là đảng viên trong đảng bộ, chi bộ nói chung thực hiện theo quy trình: Chỉ định vào ban chấp hành đảng bộ, ban chấp hành đảng bộ bầu vào các chức danh cần thiết.
- Cấp uỷ cấp trên trực tiếp có thể chỉ định đích danh đảng viên là cấp uỷ viên cấp trên vào chức danh bí thư, phó bí thư, chủ nhiệm UBKT của cấp uỷ cấp dưới.”
Như vậy, tuỳ tình hình cụ thể mà việc bổ sung cấp uỷ viên thiếu do cấp uỷ đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền bổ sung từ những đảng viên trong đảng bộ, chi bộ hoặc do cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định đích danh đảng viên từ nơi khác đến.
+ Về tiêu chuẩn cấp uỷ:
Điều 12, Điều lệ Đảng quy định việc lựa chọn người để bầu bổ sung vào cấp uỷ “phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có kiến thức và năng lực tham gia lãnh đạo tập thể, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đoàn kết cán bộ đảng viên, được quần chúng tín nhiệm.”
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay cần nhấn mạnh một số điểm sau đây, (Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 06-12-2004 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng):
“Nhất trí cao với đường lối, quan điểm của Đảng, gương mẫu thực hiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giải quyết tốt những vấn đề xã hội ở địa phương, đơn vị; nội bộ đoàn kết nhất trí và đơn vị, ngành, lĩnh vực phụ trách không có những vụ việc tiêu cực, những vi phạm lớn gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; chống các biểu hiện bè cánh, cơ hội, chạy chọt, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái.
Bản thân gia đình (vợ, chồng, con) gương mẫu, không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, làm sai chính sách, pháp luật; không tham nhũng và kiên quyết chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực”.
Về độ tuổi: (Hướng dẫn số 37-HD/BTCTW ngày 15-2-2005 của Ban Tổ chức Trung ương, hướng dẫn về công tác nhân sự cấp uỷ tại đại hội đảng bộ các cấp) nêu: “Yêu cầu cấp uỷ các cấp cần có 3 độ tuổi... Ở cơ sở cần căn cứ vào đặc điểm của từng loại hình để có quy định cụ thể (một số ít cơ sở xã, phường, thị trấn có thể cấu tạo một số ít cấp uỷ viên và cán bộ chủ chốt ở độ tuổi 50, còn nói chung độ tuổi cấp uỷ cơ sở phải trẻ hơn cấp huyện.” .
Các đồng chí dựa vào quy định và hướng dẫn trên để lựa chọn những đảng viên bổ sung vào cấp uỷ phù hợp, đảm bảo yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, kiến thức và độ tuổi, đặc biệt phải là người có tín nhiệm cao trong đảng bộ.
VỀ CHÍNH SÁCH CÁN BỘ
Cha tôi sinh năm 1913, tham gia hoạt động cách mạng năm 1939, mất năm 1945, đã được công nhận gia đình có công với nước. Xin hỏi cha tôi có được hưởng chế độ chính sách của Nhà nước với cán bộ hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không?
NGUYỄN TIẾN TÙNG
Kiến Xương, Thái Bình
Trả lời: Việc xem xét, công nhận người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945 (cán bộ lão thành cách mạng) được qui định tại Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 24-12-1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và các văn bản hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương; Điều 9 Pháp lệnh “Ưu đãi người có công với cách mạng” của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29-6-2005. Trong các văn bản hiện hành của Đảng, Nhà nước về thực hiện chính sách đối với người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chưa quy định việc xem xét công nhận đối với người đã hy sinh, từ trần.
Để thực hiện chính sách đối với người hoạt động cách mạng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã hy sinh, từ trần, Ban Tổ chức Trung ương đã có Tờ trình và được Ban Bí thư đồng ý thực hiện chủ trương trên và đã giao các cơ quan chức năng soạn thảo văn bản trình Chính phủ để ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cũng đã sửa đổi Pháp lệnh “Ưu đãi người có công với cách mạng” về người hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã hy sinh, từ trần.
Do đó, đề nghị gia đình chờ khi có Nghị định của Chính phủ cơ quan chức năng sẽ xem xét giải quyết việc công nhận và thực hiện chế độ chính sách đối với cha ông. Kính chúc ông và gia đình mạnh khoẻ.