HỎI: 1. Đảng viên A do hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã làm đơn đề nghị chi bộ xin ra khỏi Đảng. Chi bộ đã nhất trí đề nghị và được cấp uỷ có thẩm quyền quyết định cho đồng chí A ra khỏi Đảng.
Sau một thời gian, ông A đưa cả gia đình đến cư trú ở một tỉnh khác. Ông A đã xin được tổ chức đảng cũ xác nhận vẫn là đảng viên và giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng về đảng bộ nơi cư trú mới. Sau một thời gian tham gia sinh hoạt đảng, đảng bộ đã phát hiện thấy trước khi ông A chuyển sinh hoạt đảng vào nơi cư trú mới, ông đã xin ra Đảng (không còn là đảng viên nữa). Trước tình hình trên, hiện đang có 3 loại ý kiến khác nhau:
- Thứ nhất, cần phải khai trừ ông A ra khỏi Đảng.
- Thứ hai, xoá tên ông A khỏi danh sách đảng viên.
- Thứ ba, ông A không phải là đảng viên vì đã xin ra khỏi Đảng, nay chỉ cần ra quyết định không công nhận ông A là đảng viên.
Vậy ý kiến nào là đúng?
PHẠM HỒNG PHÚC
UBKT Tỉnh uỷ Bà Rịa -Vũng Tàu
TRẢ LỜI: Nếu đúng đảng viên A đã làm đơn xin ra Đảng và được cấp có thẩm quyền ở đảng bộ cũ quyết định cho ra Đảng; sau đó đã lợi dụng tổ chức đảng nơi cư trú cũ làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng đến nơi cư trú mới để sinh hoạt, nay phát hiện được thì chi bộ báo cáo đảng uỷ cơ sở, đảng uỷ cơ sở báo cáo cấp uỷ có thẩm quyền ra quyết định xoá tên ông A trong danh sách đảng viên.
Đồng thời trao đổi với cấp ủy cấp trên của tổ chức cơ sở đảng nơi cư trú cũ chỉ đạo cấp ủy cơ sở nơi đó kiểm điểm, phê bình nghiêm khắc về việc làm trái với Điều lệ Đảng.
HỎI: 1- Một đảng viên được chi bộ miễn công tác và sinh hoạt đảng, nhưng không xin giảm hoặc miễn đóng đảng phí, tự ý không đóng đảng phí 8 tháng liền thì xử lý như thế nào? Có được xét tặng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng không?
2- Đảng viên đến thời điểm đủ 40 năm tuổi đảng, nhưng bỏ sinh hoạt đảng, không đóng đảng phí (8 tháng liền) và không dự kiểm điểm phân tích chất lượng đảng viên năm 2005. Vậy có được xét tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng không?
ĐÀO VĂN TỤ
Đông Hưng, Thái Bình
TRẢ LỜI: 1- Điều 2, điểm 4, Điều lệ Đảng khóa X quy định: Đảng viên có nhiệm vụ “…sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định”.
Mục C, điểm 1, Quy định của Bộ Chính trị (ban hành theo Quyết định số 09-QĐ/TW ngày 24-9-2001) về chế độ đảng phí đã ghi rõ: “Đảng viên đóng đảng phí hằng tháng trực tiếp cho bí thư chi bộ, hoặc chi ủy viên được chi bộ giao trách nhiệm thu đảng phí”.
Hướng dẫn số 724-HD/TCQT ngày 12-10-2001 của Ban Tài chính - Quản trị Trung ương thực hiện Quyết định số 09-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chế độ đảng phí ở Phần A, mục II đã hướng dẫn: “...Trường hợp đảng viên có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, nếu có đơn đề nghị miễn hoặc giảm mức đóng đảng phí, chi bộ xem xét và báo cáo cấp ủy cơ sở, cấp ủy cơ sở căn cứ tình hình thực tế để quyết định cho giảm hoặc miễn trong thời gian từ 3 đến 6 tháng”.
Theo những quy định và hướng dẫn trên, đảng viên được chi bộ miễn công tác và sinh hoạt đảng, nhưng không xin giảm hoặc miễn đóng đảng phí mà tự ý không đóng đảng phí thì chi bộ yêu cầu đảng viên đó kiểm điểm và xem xét theo 2 hướng sau:
a) Nếu do hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, không có khả năng đóng đảng phí, qua kiểm điểm, đảng viên nhận rõ khuyết điểm, chi bộ phê bình, nhắc nhở và hướng dẫn để đảng viên làm đơn, chi bộ báo cáo đảng ủy cơ sở xin miễn đóng đảng phí cho đồng chí đó.
b) Nếu kinh tế không khó khăn, nhưng do ý thức đảng kém, không thực hiện nhiệm vụ đóng đảng phí 8 tháng liền, chi bộ cũng tiến hành kiểm điểm, nếu đảng viên đó nhận rõ khuyết điểm, thực hiện việc đóng đảng phí thì chi bộ xem xét và có hình thức kỷ luật (cảnh cáo hoặc cách chức) để giáo dục. Trường hợp đảng viên đó không nhận rõ khuyết điểm, tiếp tục không đóng đảng phí thì thực hiện xóa tên trong danh sách đảng viên theo quy định tại điểm 1, Điều 8, Điều lệ Đảng.
Trường hợp đảng viên như nêu ở trên, nếu do hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, không có khả năng đóng đảng phí, chi bộ tiến hành kiểm điểm, phê bình. Đồng thời, hướng dẫn đồng chí đó làm đơn và báo cáo đảng ủy cơ sở. Nếu được đảng ủy cơ sở đồng ý cho miễn đóng đảng phí thì đảng viên đó được xét tặng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng. Ngược lại, không phải vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mà do ý thức đảng kém, đảng viên đó không đóng đảng phí, thì chi bộ phải tiến hành kiểm điểm, xem xét tư cách đảng viên. Qua kiểm điểm, nếu đồng chí đó nhận rõ khuyết điểm, thực hiện nhiệm vụ đóng đảng phí thì chi bộ vẫn phải có hình thức kỷ luật (cảnh cáo hoặc cách chức) và thực hiện xét tặng huy hiệu đảng theo quy định và hướng dẫn như trả lời 2 dưới đây.
2- Điều 34, điểm 36.3(a), Quy định số 14-QĐ/TW đã ghi rõ: “Những đảng viên hoạt động lâu năm, giữ gìn tốt tư cách đảng viên, có đủ 40 năm, 50 năm, 60 năm, 70 năm tuổi đảng trở lên được tặng huy hiệu Đảng”.
Điều 34, điểm 26.1.1(a) Hướng dẫn số 04-HD/TCTW, ngày 5-2-2002 của Ban Tổ chức Trung ương còn hướng dẫn cụ thể: “Tại thời điểm xét tặng huy hiệu Đảng, đảng viên bị kỷ luật về Đảng, Nhà nước, tổ chức đoàn thể từ hình thức cảnh cáo trở lên thì chưa xét tặng; sau 6 tháng (đối với kỷ luật cảnh cáo), một năm (đối với kỷ luật cách chức) nếu không tái phạm khuyết điểm thì được xét tặng huy hiệu Đảng”.
Do đó, với đảng viên nêu trên, chi bộ cần tiến hành kiểm điểm, xem xét tư cách đảng viên trước khi xét tặng huy hiệu Đảng.