Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay ( 08/07/2015)
LTS: Như đã giới thiệu ở số 12-2014, kỳ này Tạp chí Xây dựng Đảng tiếp tục đăng phần II: “Một số luận điểm mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược” - một phần quan trọng trong bài viết “Một số vấn đề về phát triển NNLCLC ở nước ta hiện nay” của đồng chí Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

II. Một số luận điểm mới về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

Triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, một loạt các Nghị quyết, Kết luận của các hội nghị Trung ương của nhiệm kỳ Đại hội XI đã được ban hành, định hướng khá tập trung vào phát triển con người, nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược.

Thứ nhất, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là NNLCLC phục vụ yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cũng như để khẳng định vị thế của tri thức và trí tuệ Việt Nam trong sân chơi toàn cầu, Đảng xác định phải đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục - đào tạo, trong đó chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phải là: “Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính”(1). Trong Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Đảng ta không chỉ coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, mà còn nhấn mạnh ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Cần phải nói một cách khách quan rằng, đây là luận điểm không mới, chúng ta đã nêu ra nhưng chưa làm được nhiều. Đã hàng chục năm qua, chúng ta bắt mạch đúng rằng, nguồn nhân lực yếu kém là một trong các điểm nghẽn của tăng trưởng. Giáo dục đào tạo nặng về lý thuyết, thiếu năng lực thực hành; bằng cấp tràn lan và thực học còn hạn chế; thừa thầy, thiếu thợ; lao động vừa thiếu, vừa thừa, thiếu lao động kỹ năng và thừa lao động không qua đào tạo; thu hút nhân tài rầm rộ ở mọi địa phương nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu và hầu hết là không giữ được người; lương bổng và chế độ đãi ngộ không gắn với tài năng và hiệu quả công tác; cạnh tranh quốc tế bằng lao động phổ thông, giá nhân công rẻ đang khiến chúng ta yếu thế và lép vế ngay cả trên sân nhà... Đây chính là những vấn đề lớn, xét cho cùng, là nhiệm vụ trung tâm của đổi mới giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục tụt hậu, không bắt kịp với sự phát triển của thế giới, không cải thiện được năng lực cạnh tranh, phát triển thiếu bền vững. Nhiệm vụ giáo dục, “trồng người” vừa là trước mắt, vừa là lâu dài. Trước lúc đi xa, Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân bản “Di chúc” lịch sử, gửi gắm chúng ta và các thế hệ mai sau: “đầu tiên là công việc đối với con người” và “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau chính là sự nghiệp “trồng người” của toàn Đảng, toàn dân ta, vì lợi ích trăm năm, trong đó sự nghiệp giáo dục giữ vai trò trọng yếu. Theo Bác, giáo dục phải chú trọng cả “Đức” và “Tài”. Tài và Đức thống nhất biện chứng trong mỗi con người và được hình thành trong quá trình thực hiện nội dung giáo dục toàn diện: Đức, Trí, Thể, Mỹ. Bác cũng yêu cầu: Giáo dục phải phục vụ đường lối của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống nhân dân, học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế. Trong giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động sản xuất.... Bởi vậy, trong bối cảnh hiện nay, trước những yêu cầu của đổi mới, chúng ta “không thể đào tạo theo cái mà mình có mà là đào tạo theo cái thị trường cần, xã hội cần”, phải coi trọng giáo dục tiểu học, đẩy mạnh hướng nghiệp và dạy nghề, không phổ cập đại học tràn lan, và nhấn mạnh “quản lý sản phẩm đầu ra” thay vì “quản lý sản phẩm đầu vào” không theo chuẩn mực chung của thế giới. Do đó, trong giai đoạn này, Đảng ta chủ trương xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại; chú trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, lối sống, nâng cao khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành; thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phương thức đổi mới là xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, theo hướng phát triển phẩm chất, tầm nhìn, năng lực (đặc biệt là năng lực sáng tạo), kỹ năng cho người học; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời. Chủ trương trên thể hiện rõ ràng sự đổi mới tư duy bám sát thực tiễn của Đảng ta trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Nền giáo dục hiện đại không chỉ chú trọng đào tạo nhân lực, mà còn phải chú trọng phát triển đỉnh tháp dân trí, chú trọng đào tạo nhân cách, tạo nên những tinh hoa của trí tuệ và tâm hồn Việt Nam; chú trọng không chỉ nền tảng tri thức khoa học, mà còn phải trau dồi phương pháp khoa học để người học có năng lực tư duy sáng tạo. Quá trình phát triển năng lực luôn gắn với quá trình hoạt động thực tiễn, tổ chức thực hiện công việc. Vì vậy, phương châm gắn học với hành, nhà trường với xã hội, thông qua công việc mà tiếp tục học sẽ mãi có giá trị to lớn và lâu dài.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh, phát triển đất nước nhanh và bền vững, trong nhiệm kỳ này Đảng ta xác định phải lựa chọn con đường phát triển tất yếu dựa vào khoa học và công nghệ. Bởi suy cho cùng, cạnh tranh phát triển giữa các quốc gia hiện nay cũng chính là cạnh tranh về khoa học, công nghệ, đặt ra yêu cầu phải “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”. Đây là hai trụ cột, đồng thời là động lực mới cho sự phát triển đất nước, khi sau gần 30 năm đổi mới, các động lực tăng trưởng như: đất đai, lao động rẻ, xuất khẩu sản phẩm thô, đầu tư, tín dụng... đã không còn nhiều dư địa. Để tạo đột phá mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhằm cùng với giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ cũng phải thật sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về hệ thống tổ chức các cơ quan khoa học, về cơ chế đầu tư, về cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ; nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, coi đây là nhân tố quyết định đối với sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ và là nhân tố giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quán triệt quan điểm thị trường là cơ chế huy động, tổ chức và phát triển khoa học công nghệ, thị trường khoa học công nghệ, Nhà nước thực hiện quản lý hoạt động khoa học công nghệ theo quy hoạch, kế hoạch và theo nguyên tắc thị trường; cần ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ thông qua hình thức khoán chi và chế độ tiền lương đặc thù như các nước trên thế giới đã áp dụng; tôn vinh các nhà khoa học và tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà khoa học Việt kiều về làm việc trong nước.

Thứ ba, xây dựng và phát triển con người Việt Nam một cách toàn diện, trên nhiều chiều cạnh, nhất là từ góc nhìn văn hóa, phát triển con người. Như chúng ta đều biết, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Việt Nam xây dựng là nền kinh tế từ trong thuộc tính của nó mang đậm chất nhân văn, nền kinh tế do con người và vì con người. Việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, khẳng định ý nghĩa quyết định của nhân tố con người trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng, trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, cũng như trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng này phù hợp và bắt kịp được với xu thế chung của nhân loại tiến bộ - không tuyệt đối hóa sức mạnh kinh tế, không thần thánh hóa khoa học, công nghệ hay bất kỳ một nhân tố nào khác, mà trở lại với con người, vì sự phát triển con người.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng; trên cơ sở kế thừa những quan điểm, chủ trương của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, tổng kết lý luận và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong những năm qua, nhất là từ việc chỉ ra những thành tựu, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người, với việc ban hành Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI, Đảng ta đã có sự đổi mới trong tư duy về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới. Nghị quyết đã nhấn mạnh quan điểm phát triển con người, gắn phát triển văn hóa với sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Và “Xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Đây là các biểu hiện mới của đặc trưng nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng và phát triển. Đó là sự kế thừa tinh thần của Đề cương Văn hóa năm 1943 để bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vừa đúng với quan điểm lý luận nhất quán, vừa đáp ứng đúng yêu cầu mới của thực tiễn. Đồng thời, trong mục tiêu chung về xây dựng và phát triển văn hóa, con người, Nghị quyết đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa, phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Điểm nổi bật nhất về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết đã chỉ ra năm quan điểm chỉ đạo: “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ; sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật... Trong xác định nhiệm vụ xây dựng văn hóa chính trị và văn hóa kinh tế, hai nội dung mới của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9, Đảng nhấn rất mạnh đến “trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tụy, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân”. Đây là luận điểm mới, có mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, thể hiện Đảng ta đã rất coi trọng vị trí, vai trò quan trọng của văn hóa và con người (đặc biệt là vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý) trong xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ tư là, vai trò hạt nhân của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ cấp chiến lược. Như chúng ta đều biết, mọi chế độ xã hội cũng như các giai cấp, đảng phái cầm quyền, vì lợi ích của họ, đều phải hết sức chăm lo xây dựng đội ngũ tinh hoa. Trong lịch sử văn hiến hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cha ông chúng ta đã sớm sáng lập Quốc Tử Giám, một trung tâm đào tạo những người hiền tài - được coi là “nguyên khí quốc gia” để gánh vác đại sự đất nước. Nhiều nhà tư tưởng, triết gia phương Đông cũng như phương Tây đã có tầm nhìn và nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Tagor, một nhà thơ, một triết gia Bà La Môn nổi tiếng của ấn Độ đã nói: “Đào luyện một người đàn ông, chúng ta được một người đàn ông. Đào luyện một phụ nữ, chúng ta được một gia đình. Đào luyện một thầy giáo, chúng ta được một thế hệ. Còn đào luyện một lãnh tụ, chúng ta được một quốc gia phát triển”. Khi giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị, lãnh tụ V.I.Lê-nin đã từng khẳng định: “Trong lịch sử, chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được ra trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Kế thừa tri thức nhân loại và tinh hoa văn hóa dân tộc, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng đến công tác cán bộ, từ đánh giá, lựa chọn, đào tạo, thử thách, rèn luyện, sử dụng, đãi ngộ. Người cho rằng, cán bộ là dây chuyền của bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Với ý nghĩa như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ cấp chiến lược là lực lượng tinh hoa của xã hội, có vị trí vừa tiên phong, vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng trong cả quá trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Trong quá trình gần 30 năm đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước, Đảng ta đã có nhiều đổi mới và điều chỉnh tư duy về chiến lược phát triển con người, nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Việc đổi mới về tư duy, cách làm trong công tác cán bộ được bắt nguồn từ mục tiêu và bám sát đường lối đổi mới của Đảng, vừa kế thừa những thành quả, kinh nghiệm đã đạt được, vừa đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới đất nước và chủ động hội nhập quốc tế. Và qua mỗi kỳ Đại hội của Đảng, chủ trương về phát triển nguồn nhân lực, cán bộ cấp chiến lược ngày càng được xác định rõ nét trong quá trình đó, bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng khi Đảng ta xác định: “Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng(2). Ngày nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế với mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI về cơ bản nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên con đường đi tới, chúng ta có nhiều thuận lợi, cơ hội; đồng thời, cũng có không ít khó khăn, thách thức. Và, để hoàn thành được mục tiêu đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải có được NNLCLC cả về tri thức, trí tuệ và nhân cách Việt Nam. Đội ngũ ấy phải là những tấm gương sáng về lập trường chính trị và đạo đức cách mạng; có tri thức hiện đại và trình độ lý luận cao; có tư duy và tầm nhìn chiến lược; có năng lực hoạt động thực tiễn và lãnh đạo, quản lý xuất sắc.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta đã quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ theo hướng chuẩn hóa, quy chế hóa, quy trình hóa từ khâu đào tạo, bồi dưỡng, bầu cử, tuyển dụng, quy hoạch, đánh giá, đến sử dụng, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm nhằm khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, quá mức về số lượng và kém về chất lượng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã ban hành rất đúng lúc, có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện chủ trương xây dựng và chỉnh đốn Đảng, mở rộng dân chủ trong Đảng, nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình, quán triệt sâu sắc nguyên tắc tập trung dân chủ về công tác cán bộ, nhất là cán bộ ở cấp chiến lược. Tại Hội nghị này, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta nhận định: “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng”; tuy nhiên, “đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng, nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước”(3). Để khắc phục tình trạng trên, Đảng ta đưa ra bốn nhóm giải pháp đồng bộ, trong đó đặc biệt quan tâm đến việc ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; đề cao vai trò tiên phong gương mẫu của cán bộ; chú trọng công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cấp chiến lược. Và cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XI, lần đầu tiên Đảng ta quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể. Theo đó, những người hai năm liền tín nhiệm thấp, không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét, cho thôi giữ chức vụ, không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác. Những nội dung này là mới, mạnh bạo và phải nỗ lực làm cho bằng được, để một mặt, Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh và mặt khác, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Lịch sử dân tộc ta từ khi có Đảng, có Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đường đã hòa quyện với lịch sử cách mạng, lịch sử Đảng; đã làm nổi bật mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, Nhà nước với dân, cán bộ, đảng viên, công chức với đồng bào cả nước. Cùng với đổi mới trong tư duy phát triển, trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn tập trung vào việc thực thi hệ mục tiêu, hệ giá trị “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trở lại với hệ giá trị vì con người và do con người. Đây cũng chính là điểm cốt yếu trong đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam và trong học thuyết lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là trụ cột quyết định tạo nên sức mạnh của Việt Nam r

Kỳ sau: Một số đề xuất định hướng giải pháp thực hiện trong giai đoạn mới.

-----

(1) ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, H.2011. (2) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), NXB. CTQG, H.2005, tr.140. (3) Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XI.
Tô Huy Rứa
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : XÂY DỰNG ĐẢNG. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Nguyễn Đức Chính (tổng hợp). Đăng ngày: 08/07/2015
Các bài tiếp
Tác giả : TS. Vũ Ngọc Hoàng - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Nguyễn Văn Tùng - Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, BTCTƯ. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Vũ Thị Thuỷ - Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, BTCTƯ. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Nguyễn Quang Dung - Vụ trưởng Vụ Đảng viên, BTCTƯ. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Nguyễn Ngọc Oai - Bí thư Đảng ủy, Cục trưởng Cục Kiểm ngư. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Dương Công Tùy - UVBTV, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : TS. Trương Thị Bạch Yến. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Nguyễn Hòa Hiệp - Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Đăng ngày: 08/07/2015
Tác giả : Phúc Nhân. Đăng ngày: 08/07/2015
Sáng 26-1-2021, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khai mạc trọng thể tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Thủ đô Hà Nội. Tại phiên khai mạc Đại hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Văn kiện trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng. Tạp chí Xây dựng Đảng trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: