Để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ( 03/08/2012)

1. Mối quan hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ là hai tính chất, hai nội dung của một vấn đề, tồn tại biện chứng trong một chỉnh thể. Dân chủ chỉ có thể thực hiện được trên nguyên tắc tập trung. Bởi không có tập trung thì dân chủ sẽ trở thành tuỳ tiện. Vì vậy, dân chủ hướng tới tập trung và tập trung trên cơ sở dân chủ. Để đoàn kết, sức chiến đấu cao, Đảng phải thống nhất ý chí và hành động. Điều đó chỉ có được khi tổ chức và hoạt động của Đảng phát huy tối đa trí tuệ, tài năng của mỗi đảng viên trên cơ sở phát huy dân chủ trong toàn Đảng. Để đi đến thống nhất tư tưởng và ý chí thì mọi quyết định phải được bàn bạc dân chủ, toàn bộ quá trình đi tới sự tập trung phải là một quá trình dân chủ.

Tập trung dân chủ hoàn toàn đối lập với tập trung quan liêu, độc đoán; khác với sự áp đặt suy nghĩ, ý kiến, nguyên vọng, ý chí của người lãnh đạo đối với đảng viên, tổ chức đảng cấp trên đối với cấp dưới. Nói chuyện với cán bộ làm công tác tổ chức và tư tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn đạt bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ một cách cô đọng và dễ hiểu: Tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung.

Nhận thức đúng bản chất, nắm chắc nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ trong Điều lệ Đảng là nền tảng lý luận và cơ sở khoa học cho mỗi đảng viên bảo vệ Đảng, bác bỏ những luận điểm xuyên tạc nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng mà thủ pháp đơn giản của những luận điểm đó là cố tình tách rời, đối lập giữa tập trung và dân chủ. Một đảng chân chính luôn phấn đấu cho sứ mệnh phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân như Đảng ta không chấp nhận tình trạng chỉ đạo tập trung quan liêu giáo điều và tư biện, làm mất sinh lực và cuối cùng, làm giảm sức mạnh và uy tín của Đảng.

2. Thực trạng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng có những chuyển biến tích cực, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, phù hợp với những biến đổi, yêu cầu đổi mới trong cơ chế nhà nước pháp quyền, dân chủ hoá đời sống xã hội. Đại hội của Đảng từ khoá VII cho đến XI đều đánh giá: Trong Đảng giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, có tiến bộ về thực hiện dân chủ trong Đảng và lãnh đạo thực hiện dân chủ trong xã hội.

Các cấp uỷ đảng đã xây dựng quy chế làm việc, trong đó cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ vào từng công việc. Sinh hoạt của các cấp uỷ dân chủ, cởi mở hơn. các cấp uỷ đảng từ Trung ương đến cơ sở chú trọng thu thập ý kiến của cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng cấp dưới. Các cấp uỷ viên mạnh dạn trình bày thẳng thắn ý kiến riêng, chất vấn tại cấp uỷ. Người chủ trì hội nghị tiếp thu ý kiến khác với dự thảo nghị quyết một cách trân trọng. Các hình thức giao ban, hội nghị chuyên đề, hội thảo, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên và nhân dân... được các cấp uỷ đảng sử dụng rộng rãi để qua đó nắm bắt thông tin, dân chủ bàn bạc các chủ trương, biện pháp thực hiện nghị quyết có hiệu quả. Tinh thần đó thể hiện sự tiến bộ rõ rệt trong công tác tổ chức - cán bộ, đặc biệt từ khi Đảng tái lập đảng đoàn và ban cán sự đảng ở các đoàn thể và các cơ quan nhà nước. Những biểu hiện không nghiêm trong chấp hành chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình trạng tuỳ tiện, cục bộ địa phương, mất đoàn kết nội bộ được chấn chỉnh, tổ chức và cá nhân vi phạm đã bị xử lý kỷ luật.

Bên cạnh những tiến bộ rõ rệt, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ vẫn bộc lộ nhiều yếu kém ở hầu khắp các cấp, các ngành, dưới những hình thức, mức độ khác nhau. Đại hội IX, X, XI đều nhận định: một số cán bộ và cấp uỷ chưa tôn trọng và chưa thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Bệnh quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, cục bộ địa phương khá phổ biến, thái độ kèn cựa, tính cá nhân chủ nghĩa còn rất nặng. Không ít nơi, nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng. Trong công tác tư tưởng và hoạt động lý luận của Đảng, có lúc, có nơi chưa tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong sinh hoạt đảng, một mặt tình trạng dân chủ hình thức còn nặng nề, chưa phát huy tốt tự do tư tưởng; mặt khác, kỷ cương, kỷ luật còn lỏng lẻo, bề ngoài thì nhất trí với nghị quyết nhưng bên trong cố ý làm trái với nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhiều nơi, người đứng đầu cấp uỷ, cán bộ chủ chốt không dám chịu trách nhiệm, thậm chí còn dựa dẫm tập thể. Điều nguy hiểm hơn là, một số cấp uỷ địa phương, cơ sở đã nhân danh tập thể để đưa ra những quyết nghị, quyết định trái với nghị quyết của cấp trên, vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc vượt quá thẩm quyền. Không ít nơi có tình trạng bí thư vượt quyền ban thường vụ, ban thường vụ vượt quyền ban chấp hành, ban chấp hành tự ý làm trái nghị quyết đại hội. Trong sinh hoạt của cấp uỷ, những vấn đề tranh luận phức tạp hoặc những ý kiến khác nhau trong hội nghị thường bị né tránh hoặc là “gác lại”. Trong đánh giá, phê bình thường chỉ nêu ưu điểm, thành tích, lướt qua hoặc biện hộ cho những yếu kém, khuyết điểm.

Nguyên nhân những hạn chế trên do: Trước hết là trách nhiệm của người đứng đầu chưa cao. Tiếp đến là việc phân công, phân nhiệm thiếu rõ ràng, thậm chí chồng chéo. Cán bộ chính quyền các cấp tham gia cấp uỷ chưa phát huy hết vai trò trách nhiệm và sự lãnh đạo của cấp uỷ. Cán bộ, đảng viên còn bị đè nặng bởi tư duy, tác phong, lối sống sản xuất nhỏ, tâm lý cục bộ, địa phương, bản vị... Vẫn còn thói quen thời tập trung quan liêu bao cấp, tổ chức đảng bao biện làm thay chính quyền, cấp trên “lo” hết cho cấp dưới, người lãnh đạo “nghĩ” hết cho người thừa hành v.v...

Một nguyên nhân quan trọng khác là việc hướng dẫn, xây dựng quy chế, chế độ cụ thể để các cấp thực hiện tiến hành chậm và chủ yếu mới dừng ở các quy định chung chung. Tinh thần, ý chí đảng viên tự phê bình và phê bình, bảo vệ chân lý không cao. Tình trạng né tránh, không nói thẳng, nói thật, dĩ hoà vi quý, dễ người dễ ta còn phổ biến. Để nắm giữ địa vị và quyền lợi của mình, có những người lãnh đạo ngại mở rộng dân chủ, không tiếp thu ý kiến trái ý mình, nhấn mạnh tập trung nhưng thực chất là quan liêu, tập trung bằng mệnh lệnh hành chính. Mặt khác, vì muốn được yên vị, cấp dưới không đấu tranh với sai trái của cấp trên, chấp nhận tình trạng thiếu dân chủ trong chừng mực nó chưa phương hại đến lợi ích của mình. Vì lợi ích cá nhân, cục bộ, cấp dưới không thực hiện đúng quy định của cấp trên, cố ý làm trái, lợi dụng sơ hở trong quản lý để trục lợi, khi bị phát giác thì đổ lỗi cho khách quan, do năng lực hạn chế, quan liêu. Tình trạng trên kéo dài và diễn ra ở nhiều cấp do trong Đảng chưa thực hiện thường xuyên, nghiêm ngặt chế độ kiểm tra, chưa kiên quyết xử lý kịp thời những tập thể và cá nhân vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của Đảng.

3. Một số giải pháp nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ

Trước hết, cần nhận thức đúng đắn đầy đủ nội dung nguyên tắc tập trung dân chủ. Hiểu sâu sắc nguyên tắc tập trung dân chủ là quy định của Đảng, đồng thời là quy luật vận động và phát triển. Cùng với việc nghiên cứu, quán triệt bản chất, nội dung, vai trò quyết định của nguyên tắc tập trung dân chủ, phải đánh giá, kiểm điểm nghiêm túc việc thực hiện nguyên tắc đó một cách toàn diện ở tất cả các cấp, các ngành. Xác định rõ những gì đã làm đúng, chỉ ra những gì làm chưa đúng, những nguyên nhân chủ quan, khách quan. Đối với những tổ chức, cán bộ, đảng viên sai phạm nghiêm trọng phải xử lý kỷ luật và có biện pháp chấn chỉnh ngay về tổ chức.

Cần cụ thể hoá các nguyên tắc nêu trong Điều lệ Đảng bằmg những văn bản hướng dẫn cụ thể để các cá nhân và tổ chức thực hiện. Trước mắt, cần xây dựng quy chế tổ chức và quản lý sinh hoạt tư tưởng, quy trình chuẩn bị, thảo luận, thông qua nghị quyết của các cấp uỷ đảng; cụ thể hoá thêm các quy định về công tác cán bộ; quy định cụ thể về trách nhiệm cá nhân người đứng đầu tổ chức đảng; quy định về việc xem xét kết luận lại các ý kiến khiếu tố, khiếu nại, các ý kiến bảo lưu, v.v...

 Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ đạt kết quả cao khi nó gắn với nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Hai nguyên tắc này phải cùng được tiến hành mọi nơi, mọi lúc trong Đảng. Trong sinh hoạt đảng, nếu người chủ trì thiếu dân chủ, độc đoán hoặc thiếu quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm thì cả cấp uỷ khó mà thực hiện được tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình sẽ trở nên hình thức. Do vậy, việc kiểm điểm cán bộ chủ chốt và tổ chức đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) phải căn cứ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Những sai phạm phải được phê phán xử lý đúng mức.

 Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đây là công việc rất khó khăn. Việc chống lại nguyên tắc này thường được nguỵ biện dưới nhiều hình thức, lý lẽ tinh vi. Kiểm tra, giám sát phải được định danh, định tính, định lượng cụ thể. Người kiểm tra, giám sát phải mẫu mực về phẩm chất, trình độ chuyên môn, trong sáng, chí công vô tư và bản lĩnh. Mục đích kiểm tra không chỉ để phát hiện những vi phạm và sai lầm, mà quan trọng hơn là phòng ngừa, uốn nắn những lệch lạc, chấn chỉnh những biểu hiện sai trái, giúp cấp dưới phát huy tốt hơn tác dụng của nguyên tắc tập trung dân chủ.

GS, TS. Nguyễn Văn Huyên
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : TS. Nguyễn Thị Bích Thu - Trường Cán bộ dân tộc, Ủy ban Dân tộc. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Đỗ Thắng và Yến Giang. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : TS. Dương Trung Ý. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : PGS. Trần Đình Huỳnh. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Phạm Đức Vinh. Đăng ngày: 03/08/2012
Các bài tiếp
Tác giả : Vĩnh Trọng. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Nguyễn Hồng Chương. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Lan Phương. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Đinh Văn Năm - Phó trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Trần Quyền. Đăng ngày: 03/08/2012
Tác giả : Thu Huyền. Đăng ngày: 03/08/2012
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí CD: