Ninh Bình với công tác phát triển đảng viên là người có đạo ( 13/08/2009)

Tỉnh Ninh Bình nằm ở phía nam khu vực đồng bằng sông Hồng, gồm 6 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã. Dân số khoảng 94 vạn người, trong đó đồng bào có đạo là 193.000 người, chiếm 21,1% dân số; có 29/147 xã, phường, thị trấn có từ 30% dân số trở lên là người có đạo.

Thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo, Quy định số 123-QĐ/TW ngày 28-9-2004 của Bộ Chính trị (khoá IX) “Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo”, trong những năm qua, công tác xây dựng tổ chức đảng, bồi dưỡng tạo nguồn, phát triển đảng viên là quần chúng có đạo ở Ninh Bình được các cấp uỷ quán triệt, thực hiện có hiệu quả ngay từ khâu tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đến việc xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể, thiết thực. ở một số địa phương, cấp uỷ ra nghị quyết chuyên đề về phát triển đảng viên đối với người có đạo, mở lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho quần chúng có đạo. Do có sự chỉ đạo sâu sát, tích cực và tập trung nên công tác phát triển đảng viên là người có đạo đạt nhiều kết quả quan trọng. Mỗi năm, toàn tỉnh kết nạp được từ 40 đến 50 đảng viên là người có đạo (năm 2005 kết nạp 42 đảng viên, 2006: 41, 2007: 40, 2008: 50 đảng viên), tập trung chủ yếu ở các huyện Kim Sơn, Nho Quan, Gia Viễn. Đến nay, Đảng bộ tỉnh có 1.249 đảng viên là người có đạo, chiếm 2,36% tổng số đảng viên.

Hầu hết đảng viên là người có đạo thực hiện tốt đường lối, chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng viên, giữ gìn phẩm chất đạo đức, phát huy tính tiền phong gương mẫu, sống tốt đời đẹp đạo, được nhân dân và đồng bào có đạo tín nhiệm. Một số đảng viên phấn đấu tốt đã được bầu vào các chức danh chủ chốt cấp xã, thôn, xóm. Công tác phát triển đảng viên là người có đạo đã góp phần tích cực trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường lực lượng cán bộ nòng cốt ở vùng đồng bào có đạo, đồng thời thực hiện các chính sách tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo của Đảng và Nhà nước; tạo được sự phấn khởi, tin tưởng, đồng thuận của đồng bào có đạo, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh-quốc phòng và xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh.

Tuy nhiên, công tác phát triển đảng viên là người có đạo ở Ninh Bình vẫn còn khó khăn: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và đồng bào có đạo về chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước còn hạn chế; do nhu cầu việc làm, phần lớn đoàn viên, thanh niên vùng đông đồng bào theo đạo đi làm ăn xa; toàn tỉnh còn 33 thôn, xóm, bản chưa có chi bộ đảng (đang sinh hoạt ghép) chủ yếu ở vùng đồng bào có đạo, do đó việc nắm bắt tâm tư nguyện vọng, việc theo dõi giúp đỡ quần chúng ưu tú phấn đấu vào Đảng chưa thường xuyên; nhiều đối tượng không đủ điều kiện về trình độ văn hóa để xét kết nạp theo quy định của Điều lệ Đảng. Một số quần chúng tích cực, có uy tín là trưởng thôn, xóm, chi hội trưởng các đoàn thể là người có đạo nhưng vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình. Một số quần chúng ưu tú còn băn khoăn cho rằng khi đứng trong hàng ngũ của Đảng sẽ hạn chế việc thực hiện hoạt động theo giáo luật của tín đồ. Việc vận dụng tiêu chuẩn người có đạo vào Đảng có biểu hiện cứng nhắc, chưa thật phù hợp với đặc điểm của người có đạo. Một số còn định kiến, thiếu tin tưởng đối với người có đạo, không muốn kết nạp những chức sắc tôn giáo vào Đảng, sợ ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng. Tạo nguồn phát triển đảng viên vẫn là vấn đề khó khăn. Một số đảng viên, nhất là đảng viên lớn tuổi chưa nhiệt tình, tự giác giúp đỡ quần chúng có đạo trưởng thành để kết nạp vào Đảng. Tỷ lệ kết nạp so với số được bồi dưỡng chưa cao, có đảng bộ trong nhiều năm không phát triển được đảng viên, ít phát triển nữ đảng viên là người có đạo.

Từ thực tế có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, phải có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ cụ thể hóa bằng việc ban hành các chỉ thị, nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thật cụ thể, phù hợp với thực tiễn về công tác phát triển đảng viên là người có đạo.

Thứ hai, các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên phải nắm vững, thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tập trung hướng về cơ sở nhất là vùng đồng bào có đạo.

 Thứ ba, đảng ủy xã, thị trấn thường xuyên quan tâm chỉ đạo chi ủy chi bộ nơi có đồng bào theo đạo rà soát, theo dõi, bồi dưỡng tạo nguồn cảm tình đảng. Việc tổ chức các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng phải phù hợp với từng địa phương, từng tôn giáo. Lễ kết nạp đảng viên phải được tổ chức trang trọng, đúng nghi lễ. Tại buổi lễ kết nạp có thể mời đại diện các tổ chức quần chúng và chức sắc, chức việc tôn giáo cùng dự để tăng sức mạnh tuyên truyền, vận động, giác ngộ đối với đồng bào có đạo.

Để thực hiện có hiệu quả công tác phát triển đảng viên là người có đạo, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

1. Tiếp tục nghiên cứu, triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng, các nghị quyết, chương trình của tỉnh về công tác tôn giáo, Chương trình hành động số 18-CTr/TU ngày 9-4-2008 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) “về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên” và Kế hoạch số 63-KH/TU ngày 4-8-2008 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Tăng cường công tác phát triển đảng viên đối với chủ doanh nghiệp và người có đạo”. Đặc biệt coi trọng tính tiền phong gương mẫu của đảng viên, tạo sự tin tưởng của đồng bào có đạo cũng như quần chúng ưu tú đối với sự lãnh đạo của Đảng.

2. Xây dựng chi bộ ở những thôn, xóm, bản đông đồng bào có đạo chưa có tổ chức đảng (sinh hoạt ghép), chưa có đảng viên hoặc có ít đảng viên. Hằng năm, các tổ chức đảng tiến hành khảo sát số lượng, chất lượng quần chúng là người có đạo để xây dựng kế hoạch về công tác tạo nguồn và phát triển đảng viên. Phân công cấp uỷ viên hoặc đảng viên chính thức có kinh nghiệm trong công tác, am hiểu về tôn giáo, có uy tín đối với đồng bào có đạo về sinh hoạt tại địa bàn để xây dựng nòng cốt. Phối hợp với các đoàn thể giáo dục, bồi dưỡng, giúp đỡ tín đồ ưu tú phấn đấu vào Đảng, trong đó chú trọng đối với quần chúng là những tín đồ tốt, giữ các chức vụ ở thôn, xóm, bản; lựa chọn một số thôn, xóm có đông đồng bào theo đạo để chỉ đạo điểm việc kết nạp đảng viên là quần chúng có đạo; trên cơ sở đó rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng công tác phát triển đảng viên và xây dựng tổ chức đảng.  

3. Củng cố và nâng cao chất lượng của TCCSĐ, mặt trận và các đoàn thể nhân dân là cơ sở nâng cao chất lượng phát triển đảng viên là người có đạo. Xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh thực sự là hạt nhân đoàn kết trong hệ thống chính trị và đồng bào có đạo. Tăng cường sự lãnh đạo đối với các tổ chức quần chúng, nhất là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức công đoàn làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục hội viên, đoàn viên. Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở vùng đồng bào có đạo; phát động các phong trào thi đua yêu nước trong đồng bào có đạo để lựa chọn quần chúng ưu tú giới thiệu với tổ chức đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Chỉ đạo các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức, xây dựng kế hoạch giảng dạy phù hợp với đối tượng là người có đạo như bố trí, sắp xếp thời gian phù hợp mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng tại địa phương có đông đồng bào theo đạo, hỗ trợ toàn bộ về kinh phí, để học viên yên tâm học tập, coi đây là giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn kết nạp đảng.

4. Những nơi khó khăn về nguồn phát triển đảng viên vận dụng điểm 1.2b, Quy định số 23-QĐ/TW để kết nạp những quần chúng có trình độ học vấn tối thiểu là tiểu học. Sau khi được kết nạp vào Đảng, đảng viên phải tiếp tục học tập nâng cao trình độ học vấn để đảm bảo đúng quy định của Đảng. Việc kết nạp quần chúng phải được tiến hành đảm bảo đúng nguyên tắc, thủ tục, quy định của Đảng. Về tổ chức, nên cơ cấu một số đảng viên có đạo vào các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận, các đoàn thể ở địa phương. Phát triển đảng viên từ quần chúng có đạo thông qua coi trọng phân công công tác để thử thách, rèn luyện, kết hợp với tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, người thân, tạo dư luận tốt cho giáo dân ủng hộ. Cần có hướng dẫn cụ thể của Trung ương về thống nhất xử lý các trường hợp sinh con thứ 3, đảng viên bỏ đạo nay lại theo đạo; đảng viên tham gia các chức sắc, chức việc tôn giáo. Lịch sử chính trị của đảng viên gốc giáo; một số quy định khác khi tham gia sinh hoạt tôn giáo...

5. Quan tâm nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có đạo. Nâng cao đời sống, trình độ dân trí, vận động người có đạo thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình. Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng chính đáng của đồng bào có đạo để giải quyết kịp thời, đảm bảo theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm giữ vững ổn định tình hình an ninh chính trị ở cơ sở, “sống tốt đời đẹp đạo”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “kính Chúa yêu nước”.

6. Có các nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo, các chương trình hoạt động phối hợp chung giữa các tổ chức chính trị-xã hội, các phong trào quần chúng với hoạt động của các hội đoàn tôn giáo. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp thường xuyên xây dựng tốt mối quan hệ với các chức sắc, chức việc tôn giáo, tạo sự đoàn kết gắn bó giữa đạo và đời để thuận lợi cho việc tuyên truyền, triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào có đạo, đồng thời kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Xây dựng, phát huy có hiệu quả vai trò của lực lượng cốt cán giáo. Chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động của mặt trận, tổ chức chính trị-xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp chức sắc, giáo dân. Đây là nội dung cơ bản, thường xuyên, lâu dài, có ảnh hưởng tới sự lãnh đạo của TCCSĐ và công tác phát triển đảng viên.

Hằng năm hoặc định kỳ 6 tháng, cấp ủy cấp huyện phải sơ kết đánh giá thực hiện công tác phát triển đảng viên, trong đó đánh giá riêng về công tác phát triển đảng viên là người có đạo để thấy rõ những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, qua đó rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp có hiệu quả, đúng hướng.

 

PHẠM THỊ LỤA
Các bài trước
. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : BÙI CÔNG BÍNH. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : TRẦN ĐÌNH HUỲNH. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : VĨNH TRỌNG. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : PHÙNG TRẦN HƯƠNG. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : KIỀU LINH. Đăng ngày: 13/08/2009
Các bài tiếp
Tác giả : DƯƠNG VĂN SAO. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : CẦM THỊ LAI. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : HÀ THƯ. Đăng ngày: 13/08/2009
Tác giả : NGUYỄN VĂN BIẾT. Đăng ngày: 13/08/2009
Trong điều kiện là đảng duy nhất cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện tiên quyết để thực hiện mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” theo Di chúc của Bác Hồ
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí CD: