Phát triển lý luận về mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ( 30/04/2020)

        

Quá trình hình thành đường lối đổi mới là quá trình hình thành lý luận của Đảng ta về mô hình và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam xuất phát từ những đột phá về đổi mới tư duy kinh tế trước khi hình thành đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI của Đảng (12-1986). Việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong quá trình chuẩn bị dự thảo các văn kiện để Đại hội VI của Đảng thảo luận và đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước là một bước ngoặt có ý nghĩa cách mạng trong sự nghiệp xây dựng CNXH của nước ta, tạo ra luồng sinh khí mới trong toàn xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước vững bước tiến lên. Từng bước bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện này là quá trình phát triển lý luận của Đảng ta về mô hình xã hội và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Sau gần 35 năm đổi mới đất nước, trên cơ sở khảo nghiệm thực tế, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận cho thấy:

Một là, khẳng định và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta

Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới, Đại hội VII (6-1991) của Đảng quyết định: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với tiến trình đẩy mạnh công cuộc đổi mới và tiền đồ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới. Đến Đại hội IX (4-2001), Đảng ta đã hình thành nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn về Tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ nội tại và sức mạnh vô địch của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong tiến trình lãnh đạo thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước.

Hai là, xác định định hướng XHCN, xây dựng mô hình CNXH Việt Nam 

Luận điểm định hướng có tính chất then chốt là giữ vững vai trò lãnh đạo của một Đảng Cộng sản cầm quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân; là lý thuyết về sự “phát triển rút ngắn” con đường quá độ “bỏ qua” chế độ TBCN lên CNXH ở Việt Nam một cách biện chứng và thực tế từ định hướng, định tính tới định lượng và định kỳ với những nấc thang, nhịp độ, bước đi cụ thể, phù hợp. Đảng đã xác định định hướng XHCN trên từng lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước và ngày càng bổ sung thêm những nhận thức mới về vấn đề căn bản này. Từ mô hình CNXH với 6 đặc trưng (năm 1991) tới mô hình với 8 đặc trưng (năm 2006) và bổ sung, phát triển (năm 2011) là bước tiến vượt bậc trong xử lý mối quan hệ biện chứng giữa cái phổ biến và cái đặc thù về CNXH trên nền tảng Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay của Đảng ta.

Ba là, phát kiến lý luận nền kinh tế thị trường định hướng CNXH

Bắt đầu công cuộc đổi mới (năm 1986), Đảng ta xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Với khâu đột phá là đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế, công tác lý luận tập trung kiến giải, xác lập và nỗ lực góp phần thực thi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đại hội IX (4-2001) khẳng định: Nền kinh tế thị trường định hướng CNXH là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đó là một hình thái kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc thể hiện bản chất của CNXH nhằm phục vụ lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam. Đại hội XII của Đảng khẳng định: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.  Việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội ta khi xem kinh tế thị trường chỉ là phương tiện, công cụ hữu hiệu nhằm phục vụ nhân dân so với các chế độ xã hội khác cũng phát triển kinh tế thị trường.

Bốn là, kiến tạo lý luận Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân là sự phát triển mới về nhận thức chính trị, về lý luận mô hình XHCN và con đường đi lên CNXH, là một bước tiến lớn về thực tiễn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trước hết trên bình diện chính trị của Đảng ta.

 Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta xây dựng phải giữ vững bản chất cách mạng, bản chất giai cấp, thực sự là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân với phương thức thực thi bằng pháp quyền, theo pháp luật. Nêu cao vị trí, vai trò của pháp chế, yêu cầu mọi tổ chức, mọi công dân trong xã hội đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và tuân thủ luật pháp đi đôi với phát huy các giá trị đạo đức và văn hoá dân tộc.

Ở thời điểm hiện nay, mặc dù còn không ít hạn chế, song công tác lý luận đã phác thảo một cách vừa đại lược (có tính căn bản sâu sắc) vừa cụ thể (có tính thực tiễn khả thi) một hệ thống lý thuyết và nỗ lực tổ chức thực tiễn nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam từ vị trí, vai trò, bản chất, chức năng, nhiệm vụ tới đặc trưng, nội dung, mô hình tổ chức quyền lực, đổi mới thể chế và cơ chế vận hành bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và những điều kiện tiên quyết cần và đủ theo hướng căn cơ, hiện đại bảo đảm cho việc thực thi quyền lực của Nhà nước. Tất cả nhằm phục vụ và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với điều kiện đất nước và xu thế phát triển của thời đại.

 Năm là, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Trên nền tảng văn hoá truyền thống, kế thừa một cách chọn lọc những thành tựu đổi mới, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, Đảng ta đã từng bước khẳng định nền văn hoá Việt Nam dân tộc, hiện đại vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng, vừa là động lực nhằm phát triển đất nước nhanh và bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân. Đảng ta đã nhận thức một cách toàn diện, sâu sắc và đồng bộ tạo được sự phát triển hài hoà, gắn bó hữu cơ giữa kinh tế với văn hoá, đáp ứng nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước trong tiến trình CNH, HĐH với sự tương dung và hiệu quả trên cả ba phương diện: cơ chế vận hành phù hợp, thiết chế không ngừng đổi mới và đội ngũ cán bộ thích ứng. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để Việt Nam phát triển toàn diện. Phát huy mạnh mẽ vai trò nền tảng của văn hóa, con người Việt Nam. Coi con người là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Huy động mọi nguồn lực, phát triển đất nước nhanh và bền vững trên nền tảng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Xây dựng xã hội kỷ cương, công bằng, bảo đảm an toàn cho cuộc sống của người dân.

Sáu là, xây dựng lý luận mở cửa, hội nhập quốc tế

Đảng ta đã chủ động xây dựng, từng bước bổ sung, ngày càng hoàn thiện lý luận và đường lối đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá. Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá, sự vận động và phát triển của luận điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo: Từ “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” (năm 1991) tới “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” (năm 2001), và Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” trong thế  “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” (năm 2011) đã thể hiện một cách hết sức biện chứng và minh triết quan điểm, phương châm, nghệ thuật ngoại giao và khát vọng của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. 

Bảy là, phát triển lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền

Một trong những thành tựu lý luận nổi bật của gần 35 năm đổi mới là Đảng ta đã từng bước làm rõ những vấn đề cơ bản về tính quy luật của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong thời đại ngày nay. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta hết sức chú trọng tổng kết những vấn đề cơ bản trên các phương diện lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức bao quát toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của đất nước trong công cuộc đổi mới. Đặc biệt, những bài học đổi mới từ Đại hội VI, VII, VIII của Đảng rút ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị, làm căn cứ để Đại hội IX, X, XI,XII của Đảng tiếp tục đúc kết rút ra những bài học quý báu. Có thể nói, đó là sự kết tinh tập trung, cụ thể và sinh động về mặt lý luận cầm quyền của Đảng.  

Nhìn lại gần 35 năm đổi mới, bước đầu có thể hình dung khái lược những thành tựu lý luận mới về vấn đề Đảng cầm quyền được thể hiện một cách tập trung trên 10 bình diện chủ yếu: 1) Quy luật cầm quyền. 2) Quan niệm cầm quyền. 3) Cơ sở cầm quyền. 4) Phương lược cầm quyền. 5) Nội dung cầm quyền. 6) Cơ chế cầm quyền. 7) Phương thức cầm quyền. 8) Nguồn lực cầm quyền. 9) Môi trường cầm quyền. 10) Nguy cơ đối với cầm quyền.

Tám là, xác định và phát huy động lực to lớn của cách mạng Việt Nam

Đảng ta khẳng định: Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đó là một bước tiến mới trong nhận thức và hành động để thực hiện đại đoàn kết toàn dân như một mục tiêu, nhiệm vụ, công tác hàng đầu, đạo lý sống của dân tộc Việt Nam. Đó là sự phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay: “Đoàn kết làm ra sức mạnh”, “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Là then chốt của thành công”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Phương châm thực hiện là đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, người trong Đảng hay người ngoài Đảng, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài. Đoàn kết trên cơ sở những điểm tương đồng, trên tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau cùng hướng tới tương lai. Củng cố và phát triển sâu rộng khối đại đoàn kết toàn dân qua tổ chức mặt trận Tổ quốc trên cơ sở liên minh vững chắc giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một sáng tạo lớn, một sự phát triển mới về lý luận của Đảng trên nền tảng Tư tưởng Hồ Chí Minh. Khẳng định và phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc là “động lực chủ yếu” hợp thành hệ động lực gồm động lực kinh tế, động lực văn hoá... của sự nghiệp đổi mới là một nỗ lực lớn và mới của công tác lý luận.

Tóm lại, qua thực tiễn Đảng ta đã từng bước hình thành, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và phát triển đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN trên tất cả mọi phương diện. Đó cũng là quá trình hình thành, bổ sung, hoàn thiện từng bước lý luận về mô hình xã hội XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng trong việc chuẩn bị tiến hành đại hội đảng bộ các cấp và chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.


PGS, TS. Vũ Văn Phúc
Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan đảng Trung ương
Các bài tiếp
Tác giả : Nguyễn Văn Tùng - Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Điều lệ, Ban TCTƯ. Đăng ngày: 30/04/2020
Tác giả : Nguyễn Hương. Đăng ngày: 30/04/2020
Tạp chí Xây dựng Đảng trân trọng đăng toàn văn diễn văn bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đọc tại phiên bế mạc, sáng 1-2-2021.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: