Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số ( 27/09/2019)


Vai trò đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số (DTTS)

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ”(1). Việt Nam gồm 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 14%. Các DTTS cư trú chủ yếu ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Trong quá trình phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định để định hướng các ban, bộ ngành, địa phương thực hiện tốt công tác dân tộc, trong đó bao gồm cả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS. Tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS thể hiện rõ những điểm chính như sau:

Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước. Sự quan tâm đặc biệt này thể hiện quan điểm thực hiện bình đẳng các dân tộc. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 của BCH Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng. Cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng DTTS, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng DTTS và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, vùng cao. Tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc để làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách dân tộc.

Đại hội XII của Đảng xác định: “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc giúp cùng nhau phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đồng bào DTTS, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải miền Trung”(2).

Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14-3-2016 về phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong thời kỳ mới nhằm hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách về tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS, xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, đạo đức, có trình độ năng lực nghiệp vụ, góp phần củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước. Nghị quyết số 52/NQ-CP ngày 15-6-2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực các DTTS giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030 với mục tiêu “nâng cao, phát triển toàn diện nguồn nhân lực các DTTS về thể lực, trí lực và tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, cơ cấu hợp lý...; xây dựng đội ngũ trí thức, doanh nhân, cán bộ người DTTS và lao động trực tiếp có chất lượng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia và vùng đồng bào DTTS”. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018, Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp nhấn mạnh: “Cấp ủy các cấp và người đứng đầu phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí, tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người DTTS”.

Thứ hai, cán bộ người DTTS góp phần xây dựng và trực tiếp tổ chức cho các đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở vùng DTTS, duy trì ổn định quốc phòng, an ninh, trật tự trên địa bàn miền núi, vùng biên giới.

Thứ ba, cán bộ người DTTS có ảnh hưởng tích cực đối với cộng đồng. Cán bộ người DTTS cùng nguồn gốc dân tộc, với phong tục, tập quán riêng nên đồng cảm văn hóa và ngôn ngữ, dễ thực hiện lãnh đạo, quản lý và những ý kiến, hành động của họ có sức thuyết phục, thu hút, tác động lan tỏa trong cộng đồng.

Thứ tư, cán bộ người DTTS cùng với cán bộ dân tộc Kinh tạo sự hài hòa trong cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở, củng cố đoàn kết và tăng cường mối quan hệ hợp tác, đồng cảm, chia sẻ, góp phần xây dựng lòng tin, sự bình đẳng giữa các dân tộc vì mục tiêu phát triển của đất nước.

Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người DTTS được quan tâm về hình thức, nội dung đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ. Cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ở tất cả các cấp học tại các trường chính trị từ Trung ương đến cấp huyện. Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho cán bộ người DTTS gồm các chương trình chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp; bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng về tin học, ngoại ngữ… Nhiều cán bộ trẻ, nữ người DTTS được quan tâm cử tuyển đi học chuyên môn, nghề nghiệp ở các trường nội trú, đại học, cao đẳng để trở về xây dựng quê hương. Cán bộ người DTTS được tham gia đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài theo các chương trình đào tạo của địa phương, cơ quan ban, bộ, ngành.

 Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS vẫn còn nhiều hạn chế về quy mô, cơ cấu đào tạo, khả năng tiếp cận tri thức, kỹ năng của người học. Tỷ lệ cán bộ người DTTS được đào tạo, bồi dưỡng chưa cao. Số cán bộ, công chức, viên chức người DTTS được đào tạo về chuyên môn chỉ có 17.598 người, chiếm tỷ lệ 4,7%. Trong đó, số được đào tạo về lý luận chính trị là 14.381 người, chiếm tỷ lệ 3%…(3).

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS về chuyên môn nghề nghiệp, lý luận chính trị, quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Xin dẫn chứng: Trong hơn 15.700 cán bộ, công chức cấp xã toàn khu vực Tây Nguyên có gần 26% số cán bộ, công chức người DTTS; trong số đó có gần 3.000 người chưa đạt chuẩn chuyên môn (19%); hơn 5.250 người chưa đạt chuẩn về lý luận chính trị (34%)(4).

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS chưa thực sự hợp lý về cơ cấu trình độ, phân bổ vùng, miền. Về trình độ THPT: Tây Bắc 88,3%, miền Trung và Tây Nguyên 73,9%, Nam Bộ 71,9%. Về trình độ trung cấp, sơ cấp có tỷ lệ tương ứng là 28,5 - 49,9 - 24,2. Đại học, sau đại học, cao đẳng: 63,5 - 45,7 - 60,3. Lý luận chính trị sơ, trung cấp: 35,7 - 31,3 - 35,4. Lý luận chính trị cao cấp, đại học: 25,4 - 68,7 - 54,6. Quản lý nhà nước bậc sơ, trung cấp: 53,9 - 18,6 - 42,4. Quản lý nhà nước bậc đại học: 7,2 - 0,3 - 0,5. Điều này có ảnh hưởng tới khả năng giải quyết công việc được phân công. Chất lượng cán bộ vùng DTTS và miền núi chưa đáp ứng yêu cầu công việc, chưa nâng cao hiệu quả công tác và đáp ứng nhu cầu của nhân dân trên địa bàn.

Tạo nguồn cán bộ còn yếu; mối liên kết giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng thiếu chặt chẽ, gây lãng phí nguồn lực. Cử tuyển, đào tạo học sinh, sinh viên người DTTS ở các trường nội trú dân tộc là cách thức tạo nguồn từ xa, nhưng việc triển khai chưa thực sự đồng bộ ở các địa phương, chế độ chính sách chưa thỏa đáng, thiếu nhất quán quy chế tuyển chọn, bố trí, sử dụng khi tốt nghiệp. Việc sử dụng nguồn quy hoạch khó khăn, bố trí cán bộ người DTTS, đặc biệt cán bộ trẻ, nữ càng khó hơn vì bị ràng buộc các quy định về biên chế. Đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn với địa chỉ cần quy hoạch sử dụng, chưa bám sát các chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với cán bộ người DTTS, một số nơi vận dụng sai chính sách ưu tiên.

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu trọng tâm, trọng điểm. Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng chậm đổi mới, chưa đáp ứng nhu cầu đối tượng học là người DTTS. Phương thức đào tạo chậm đổi mới, thiếu linh hoạt, chưa tạo thuận lợi cho cán bộ bố trí công việc phù hợp để tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng tập trung ở trường. Chính sách, chế độ cho người học còn nhiều bất cập, chưa quan tâm thỏa đáng tới đối tượng đi học là người DTTS, đặc biệt cán bộ trẻ, nữ. Nguồn ngân sách nhà nước cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người DTTS eo hẹp.

Giải pháp trong thời gian tới

1. Cấp ủy đảng và chính quyền các cấp phải quan tâm thực chất hơn về công tác đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đối với người DTTS. Đây là một trong những nhiệm vụ chính trị, bảo đảm bình đẳng các dân tộc trong hệ thống chính trị. Tăng cường quy hoạch cán bộ trẻ người DTTS, đồng thời có kế hoạch gửi đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao tri thức, cập nhật thông tin, bổ sung và hoàn thiện kỹ năng lãnh đạo, quản lý, năng lực chuyên môn để nâng cao hiệu quả công tác.

2. Coi trọng xây dựng kế hoạch chi tiết đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS theo lộ trình, nhiệm kỳ bảo đảm tính liên tục, kế thừa các thế hệ cán bộ trong hệ thống chính trị các cấp. Đa dạng hóa nguồn cán bộ người DTTS, gồm thanh niên học sinh, sinh viên, cán bộ trẻ, nữ. Triển khai tốt các chính sách về thu hút tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS. Tăng cường đào tạo để nâng cao tỷ lệ cán bộ người DTTS giữ chức danh lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị ở Trung ương và địa phương.

3. Hoàn thiện nội dung đào tạo, bồi dưỡng phù hợp từng đối tượng, đặc trưng văn hóa và nhận thức của cán bộ DTTS, phải tính tới đặc thù đối tượng học, kết hợp hài hòa thời lượng học lý luận với thực hành, khảo sát thực tiễn. Cấu trúc chương trình cần linh hoạt, có thể bao gồm phần chung thống nhất trong cả nước và phần riêng đặc thù cho từng nhóm đối tượng cán bộ dân tộc khác nhau. Cần lựa chọn xây dựng một số nội dung phù hợp nhu cầu riêng đối với từng nhóm dân tộc.

Nội dung bồi dưỡng cần gắn chuyên môn với giáo dục phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm của cán bộ. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, tin học, ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức người DTTS theo nhu cầu công việc, vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh.

4. Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng người DTTS. Linh hoạt trong tổ chức đào tạo tập trung và phi tập trung, ngắn hạn và dài hạn, trong và ngoài nước. Kết hợp giữa đào tạo chính quy với bồi dưỡng tại chức; giữa nâng cao kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ với xây dựng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong cho cán bộ DTTS. Việc đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng sẽ giúp họ bố trí hài hòa thời gian học và làm.

5. Tăng cường năng lực đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo. Đầu tư mở rộng, nâng cấp các cơ sở sẵn có (trường nội trú, dạy nghề, cao đẳng, đại học, trung tâm bồi dưỡng chính trị, trường chính trị tỉnh, thành phố...), cơ sở đào tạo gắn với đặc thù các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải miền Trung. Quan tâm đầu tư đồng bộ trường lớp, nơi ăn, ở nội trú của học viên, giảng viên; cơ sở vật chất phục vụ dạy - học, rèn luyện thể chất, sinh hoạt văn hóa.

6. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và đổi mới phương pháp giảng dạy. Các phương pháp truyền đạt cần kết hợp nội dung mới, hiện đại với những nét văn hóa đặc trưng của người DTTS. Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với thực hành, tập huấn kỹ năng giải quyết vấn đề, xử lý tình huống.

7. Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm bảo đảm các mục tiêu, đối tượng, điều kiện, tiêu chuẩn đáp ứng hiệu quả, kịp thời, hạn chế tính hình thức, phô trương thành tích không thực chất, gây lãng phí ngân sách nhà nước.

-----

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2000, tập 9, tr.587. (2) ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB CTQG, H.2016, tr.164. (3) Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa XIII, Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật trong đào tạo, sử dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS đến năm 2013”, H.2014. (4) Đào Thị Ái Thi. Nghiên cứu các giải pháp nâng cao năng lực cán bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Đề tài cấp quốc gia (2017-2019).


PGS, TS. VŨ THANH SƠN
Phó Cục trưởng Cục Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ, Ban TCTƯ
Các bài trước
Tác giả : ***. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : Nguyễn Thanh Hùng - CVCC, Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Ban TCTƯ. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : PGS, TS. Nguyễn Viết Thông. Đăng ngày: 27/09/2019
Các bài tiếp
Tác giả : Nguyễn Thanh Hùng - CVCC, Cục Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Ban TCTƯ. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : ThS. BÙI THỊ OANH - Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : XUÂN VINH. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : TÔ HOÀNG LINH - Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP. Tuyên Quang. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : ThS. Mai Thanh Dân - UVBTV, Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy Cần Thơ. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : ThS. HÀ THỊ BÍCH THỦY - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Đăng ngày: 27/09/2019
Tác giả : ĐINH THÀNH. Đăng ngày: 27/09/2019
Cảnh sát biển nói riêng và Quân đội nói chung là lực lượng vũ trang vô cùng quan trọng. Đây không chỉ là lực lượng nòng cốt chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc mà còn là lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ, cuộc sống an bình cho nhân dân. Tham nhũng làm suy yếu lực lượng, ảnh hưởng tiêu cực đến an nguy của đất nước. Cần có nhiều giải pháp đồng bộ và thực hiện quyết liệt mới có hiệu quả, xây dựng lực lượng vũ trang trong sạch, vững mạnh, góp phần giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.
VIDEO CLIPS
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010: