Lý luận - Thực tiễn
Phản bác các quan điểm sai trái về kinh tế thị trường định hướng XHCN
17:17' 6/12/2021


1. Khái quát quá trình phát triển tư duy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng qua các kỳ Đại hội

Chủ trương phát triển kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được Đảng ta chính thức đưa ra tại Đại hội IX (2001). Mô hình KTTT định hướng XHCN đã được Đảng và Nhà nước ta vận dụng khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền tảng tư tưởng phát triển của đất nước, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển.

Từ Đại hội VI (1986), Đảng ta đã đề ra đường lối Đổi mới đất nước. Tại Đại hội này, Đảng chưa đề cập tới phát triển nền KTTT mà chủ yếu nhấn mạnh đổi mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính tập trung, quan liêu bao cấp, gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Đại hội VIII của Đảng (1996) đã có bước phát triển mới, chủ trương: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

Tại Đại hội IX của Đảng (2001), lần đầu tiên Đảng đã chính thức khẳng định nền KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Chủ trương xây dựng và phát triển nền KTTT định hướng XHCN là bước phát triển mới về tư duy lý luận kinh tế của Đảng - từ nhận thức KTTT như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang nhận thức KTTT như một chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X (2006) Đảng đã khẳng định: Để đi lên CNXH, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Đại hội X đã chỉ rõ hơn định hướng XHCN trong nền KTTT ở nước ta; nêu rõ những yêu cầu cần phải thực hiện để nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Hội nghị Trung ương VI (khoá X) về tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đã tiếp tục khẳng định: Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của KTTT, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế của CNXH và các yếu tố bảo đảm tính định hướng XHCN.

Đại hội XI của Đảng (2011) có những tư tưởng, quan điểm mới. Đại hội khẳng định: Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là một hình thái KTTT vừa tuân theo những quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH. Tại Đại hội XII (2016), Đảng đã thống nhất nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN. Điểm mới là sự nhấn mạnh KTTT định hướng XHCN trước hết cần “vận hành đầy đủ, đồng bộ” theo các quy luật của KTTT, giảm thiểu, đi đến xóa bỏ sự can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính, mang tính chất chủ quan, duy ý chí của các cơ quan quản lý nhà nước, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật kinh tế như: Quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh… Điều này thể hiện sự thay đổi toàn diện, triệt để tư duy của Đảng về KTTT theo hướng coi KTTT là cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế, quyết định việc phân bổ mọi nguồn lực đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất - kinh doanh.Đến Đại hội XIII, mô hình KTTT định hướng XHCN được xác định: KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đảng ta bổ sung đặc điểm “là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế” khi định danh mô hình “KTTT định hướng XHCN” của Việt Nam. Đồng thời, Đại hội XIII khi đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 đã xác định: Cải cách nâng cao chất lượng KTTT định hướng XHCN đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập và thực thi pháp luật hiệu lực, hiệu quả, là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển đất nước. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sản xuất, nhất là đất đai. Hệ thống pháp luật phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới. Phải coi trọng hơn quản lý phát triển xã hội; mở rộng dân chủ phải gắn với giữ vững kỷ luật kỷ cương. Phát triển nhanh, hài hòa các khu vực kinh tế và các loại hình doanh nghiệp; phát triển kinh tế tư nhân thực sự là một động lực của nền kinh tế. Bản chất nền KTTT của nước hướng tới mục tiêu cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân.

2. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế

Đại hội XI (2011) đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đã xác định nội dung đổi mới mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế như sau: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế; phát triển kinh tế trí thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh. Đại hội XII (2016) tiếp tục đề ra nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cụ thể: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại đồng bộ , tổng thể nền kinh tế và các ngành, các lĩnh vực gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào các lĩnh vực quan trọng: cơ cấu lại đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, từng bước cơ cấu lại ngân sách nhà nước; cơ cấu lại và giải quyết có kết quả vấn đề nợ xấu, bảo đảm an toàn nợ công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước với trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước; cơ cấu lại nông nghiệp.... Như vậy, định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng là lấy năng suất, hiệu quả sử dụng các nguồn lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế làm mục tiêu hàng đầu để vừa phát triển kinh tế bền vững, vừa gắn với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

3. Phát triển bền vững (PTBV)

Từ sau Đổi mới (1986), thực hiện chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhiệm vụ bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng và được xác định là một trong ba trụ cột trong tiến trình phát triển nhanh và bền vững của nước ta. Đại hội VI (1986) của Đảng đưa ra quan điểm ổn định và phát triển gắn liền với nhau trong quá trình vận động tiến lên, ổn định để phát triển và có phát triển mới ổn định được. Đại hội VII của Đảng (1991) xác định rõ phát triển các ngành kinh tế và bảo vệ môi trường: Nông - lâm - ngư nghiệp phát triển theo hướng kinh tế hàng hoá, gắn với công nghiệp chế biến, đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu, phát huy lợi thế sinh thái, bảo vệ môi trường và tài nguyên. Quan điểm về PTBV của Việt Nam cũng đã được khẳng định từ rất sớm trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến 1991-2000 tại Đại hội Đảng lần thứ VII, trong đó nhấn mạnh “tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường.

Quan điểm phát triển bền vững tiếp tục được được khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) và IX (2001) của Đảng. Ðại hội VIII nêu bài học tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái. Đại hội IX nhấn mạnh: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Đây là lần đầu tiên trục tam giác tăng trưởng kinh tế - thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội - bảo vệ môi trường với tư cách là những thành tố nằm trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ với nhau tạo nên sự PTBV được Đảng ta đề cập một cách cụ thể, rõ ràng và trở thành quan điểm chính thức của Đảng.

Từ Đại hội X (2006), PTBV đã trở thành quan điểm xuyên suốt trong chính sách của Đảng và Nhà nước, được lồng ghép trong nhiều chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Ðại hội X nêu bài học về phát triển nhanh và bền vững, trong đó ngoài các nội dung phát triển kinh tế, xã hội, môi trường còn bổ sung yêu cầu phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ và xác định mục tiêu tổng quát của Kế hoạch 5 năm 2006-2010 là phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người. Đại hội XI (2011), quan điểm PTBV được thể hiện tập trung, xuyên suốt trong văn kiện của Đảng, từ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đến Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội XI của Đảng; biểu hiện trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường... PTBV là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho PTBV. Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) khẳng định: Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Phát triển hài hoà giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh. Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Cụ thể hóa quan điểm của Đại hội XII, Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về đổi mới mô hình tăng trưởng đã xác định phát triển nhanh và bền vững toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng an ninh, tiến bộ công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái. Trong điều kiện chịu tác động rất mạnh của biến đổi khí hậu đến môi trường, cùng với đại dịch Covid-19 và các tác động đa diện của nó trên toàn cầu, Đại hội XIII (2021) của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ môi trường khi đề cập đến nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, “giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường”, bổ sung vấn đề “bảo vệ môi trường” vào mối quan hệ lớn là “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đại hội XIII chỉ rõ những nội dung mới: Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc CMCN 4.0 gắn với quá trình Hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Nhận thức, quan điểm về phát triển nhanh và bền vững của Đảng vừa có sự kế thừa nhận thức và xu hướng phát triển chung của thế giới vừa có sự vận dụng, bổ sung, phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam hiện nay chú trọng thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, tận dụng cơ hội lớn do kỷ nguyên số đem lại, đặt người dân vào trung tâm của phát triển, hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật theo tinh thần không để ai bị bỏ lại phía sau. 

4. Phát triển kinh tế đối ngoại

Đại hội VI (1986) của Đảng khẳng định: Nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế trong chặng đường đầu tiên cũng như sự nghiệp phát triển khoa học - kỹ thuật và công nghiệp hoá XHCN của nước ta tiến hành nhanh hay chậm, điều đó phụ thuộc một phần quan trọng vào việc mở rộng và nâng cao hiệu quả KTĐN. Đại hội VII (1991) chỉ rõ: Đa dạng hoá, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại (KTĐN). Huy động tiềm năng của nền kinh tế, phát huy lợi thế tương đối, vừa đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và đời sống trong nước, vừa hướng mạnh về xuất khẩu”. Đại hội VIII (1996) của Đảng đã tiếp tục khẳng định chủ trương và đường lối đối ngoại nói chung, chính sách KTĐN nói riêng theo hướng: Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài. Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả. Đại hội IX (2001) nêu ra đường lối và chiến lược phát triển kinh tế là: Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững. Sau Đại hội IX của Đảng, ngày 27-11-2001, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 07/NQ-TW về việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ vốn, công nghệ, tri thức quản lý hiện đại để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền KTTT nước ta theo định hướng XHCN.

Đại hội X (năm 2006) của Đảng tiếp tục chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng KTĐN gắn với nâng cao khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế”. Đại hội X nêu cao yêu cầu “đẩy mạnh hoạt động KTĐN”, đồng thời đề cao nhiệm vụ “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương” trong bối cảnh thời điểm đó nước ta đang đứng trên ngưỡng cửa của sự hội nhập hoàn toàn và đầy đủ vào nền kinh tế thế giới với việc nỗ lực hoàn tất thủ tục để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Đại hội XI (2011) của Đảng tiếp tục khẳng định những tinh thần trên và mở rộng nội dung hội nhập: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (HNQT); là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, XHCN giàu dân tộc, vì một nước Việt Nam chủ nghĩa giàu mạnh và xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến.

Đại hội XII (2016) của Đảng đã bổ sung và hoàn thiện quan điểm phát triển KTĐN: nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội XIII (2021) nêu rõ nhiệm vụ “chủ động và tích cực HNQT, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNQT; HNQT toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Đại hội xác định “chuyển chính sách trọng tâm thu hút hợp tác, đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng,… Xây dựng các tiêu chí thu hút đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn”. Trong đó cần quan tâm các tiêu chí về tác động của các dự án, các đối tác đến bảo đảm quốc phòng, an ninh; kiên quyết không lựa chọn, không cấp giấy phép cho những dự án gây bất lợi cho bảo đảm quốc phòng - an ninh đất nước.

5. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái

Các thế lực thù địch, phản động tăng cường công kích, xuyên tạc, phủ nhận các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng qua các Đại hội với các luận điệu sau: 1) Xuyên tạc, bác bỏ định hướng XHCN của Việt Nam. Những nhóm này cho rằng phát triển KTTT thì không thể xây dựng CNXH, chủ trương gắn KTTT với định hướng XHCN là không có cơ sở, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa. 2) Nhiều luận điệu phê phán quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế diễn ra không thực chất, chưa đạt nhiều kết quả, chỉ mang tính hình thức, cơ cấu kinh tế nước ta đang tỏ ra lạc hậu so với các nước khác. 3) Phủ nhận những nỗ lực thực hiện PTBV, xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường của đất nước, ra sức lôi kéo các cộng đồng dân tộc thiểu số, các nhóm dễ bị tổn thương để phản đối, kích động biểu tình, ngăn cản các chính sách PTBV của Đảng và Nhà nước ta. 4) Tranh thủ những ý kiến nghi ngại về khả năng thích ứng của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng để tìm cách chống phá, cản trở những nỗ lực hội nhập phục vụ phát triển mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Những quan điểm, luận điểm này bộc lộ dã tâm, mưu đồ xuyên tạc, phủ nhận đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng. Những lý lẽ đưa ra có thể thấy là những quan điểm, lập luận hết sức phiến diện và phi khoa học, không có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn, chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong phân tích, đánh giá. Thực tế cho thấy:

Thứ nhất, cần khẳng định KTTT là sản phẩm của nhân loại, được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Thực tiễn kể từ khi bắt đầu quá trình hội nhập, mở cửa nền kinh tế những năm 1990 và đặc biệt cho đến những năm gần đây Đảng và Nhà nước đẩy mạnh chủ trương phát triển KTTT định hướng XHCN, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam từng bước được cải thiện, đạt mức tăng khá cao trong bối cảnh nền kinh tế thế giới trì trệ. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đạt gần 2.800USD trong năm 2019, tăng 28 lần so với mức GDP bình quân đầu người năm 1990 (khoảng gần 100 USD). Định hướng XHCN đã tiếp tục chứng minh tính đúng đắn và ưu việt của mình thông qua đại dịch Covid-19, Đảng và Nhà nước ta đã làm rất tốt mục tiêu kép vừa ra sức chống dịch, vừa duy trì phục hồi và phát triển kinh tế, qua đó giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ nền tảng chính trị tốt đẹp cũng như những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đã đạt được thời gian qua. Do vậy, điều quan trọng nhất là kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh, đời sống con người phát triển và từng bước vươn lên ngang tầm với các nước phát triển trên thế giới. Đối chiếu với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam, có thể thấy việc Đảng ta lựa chọn mô hình “KTTT định hướng XHCN” là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, thể hiện sự khoa học và sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển thời đại và yêu cầu phát triển đất nước đặt ra.

Thứ hai, quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam, nhất là trong 5 năm trở lại đây, đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực và thực chất, thể hiện tính đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế. Quyết tâm đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu gắn với năng suất lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong những kỳ Đại hội gần đây. Thành quả cho sự quyết tâm đó thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2019 đạt mức 6,7% (cao hơn tốc độ tăng bình quân 5,9%/năm của giai đoạn 2011-2015), đạt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm 2016-2020. Cùng với đó, mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn, bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt gần 44,5%, cao hơn nhiều so với mức 33,6% của giai đoạn 2011-2015. Tỷ trọng giữa các ngành đã có sự chuyển biến đáng kể, theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông lâm thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp - xây dựng, duy trì tỷ trọng ngành dịch vụ luôn ở mức cao (dao động trong khoảng 40%) trong tổng cơ cấu GDP. Mặc dù còn một vài hạn chế, nhưng có thể khẳng định rằng những kết quả đối mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế của Việt Nam thời gian qua là rất đáng ghi nhận, thể hiện sự đúng đắn trong tư duy, định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ ba, là một trong những quốc gia được dự báo sẽ chịu tác động tiêu cực nhất từ biến đổi khí hậu, PTBV đã trở thành nội dung quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, PTBV của Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực: Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,5%/năm giai đoạn 2016-2019, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ khoảng 75% năm 2015 lên 90% năm 2019, tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học xấp xỉ 100%, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (nhiệm kỳ 2016-2021) là khoảng 25%. Ngoài ra, hơn 99% các hộ gia đình Việt Nam đã được tiếp cận với điện năm 2019, tỷ lệ dân số sử dụng in-tơ-nét là xấp xỉ 66%. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII (2021) của Đảng khi đề ra Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đã trình bày 5 quan điểm phát triển: 1) Phát triển nhanh và bền vững. 2) Về thể chế phát triển. 3) Về nguồn lực con người. 4) Về xây dựng nền kinh tế, tự chủ. 5) Về sức mạnh tổng hợp quốc gia trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Với những thành tựu PTBV mà nước ta đã đạt được thời gian qua cho thấy, những chủ trương, định hướng của Đảng về PTBV đóng vai trò rất quan trọng, nó khẳng định đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước là đúng đắn. Đồng thời, là cơ sở vững chắc để củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, qua đó làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong tiến trình đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN của Đảng và nhân dân ta.

Thứ tư, hội nhập và liên kết kinh tế trong kỷ nguyên mới là xu hướng tất yếu, với các liên kết kinh tế khu vực và song phương đang và sẽ tiếp tục được thúc đẩy. Những năm qua, Việt Nam đã tích cực đẩy mạnh phát triển KTĐN, hội nhập kinh tế với thế giới cũng như tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới kinh tế, KTĐN Việt Nam đã từng bước khẳng định là một động lực phát triển quan trọng thiết yếu của nền kinh tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng từ mức khoảng 5 tỷ USD trong năm 1990 lên gần 30 tỷ USD năm 2000, lên khoảng 160 tỷ USD năm 2010 và lên khoảng 500 tỷ USD năm 2019, với cơ cấu hàng hóa chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm xuất khẩu thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến, mang hàm lượng giá trị gia tăng cao. Là một nước có độ mở kinh tế cao (khoảng 200% GDP), Việt Nam đã và đang tham gia 17 FTA, trong đó có 2 FTA thế hệ mới mà Việt Nam đang thực hiện là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó mang lại nhiều kết quả tích cực đối với Việt Nam, đóng góp vào các mục tiêu về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu cũng như thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Tựu chung lại, những nỗ lực của Đảng và Nhà nước là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh mới, việc nước ta lựa chọn con đường chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển KTĐN là một lựa chọn đúng đắn và sáng suốt mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, góp phần nâng cao thực lực kinh tế và thực hiện khát vọng phát triển đất nước ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

Để đấu tranh với các thế lực sai trái, thù địch, tất cả mỗi người Việt Nam phải kiên định lập trường, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng Nhà nước nói chung và tư tưởng phát triển kinh tế nói riêng; rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, chuyên môn, tầm nhìn để chủ động tranh luận, đấu tranh với các quan điểm sai lầm của các đối tượng. Cần phân biệt rõ các đối tượng chính để có giải pháp, hình thức phù hợp. Đối với một số quần chúng nhân dân do hạn chế về nhận thức, ta nên kiên trì giải thích, giáo dục để họ hiểu. Đối với kiều bào ở xa đất nước nếu có người không phải chủ tâm mà do bị lôi kéo, nhận thông tin lệch chuẩn, cũng phải chú ý tiếp xúc, vận động để bà con luôn có được nguồn tin chính thức, chính xác, đồng tình, ủng hộ đối với phát triển quê hương. Đối với lực lượng thù địch, đối kháng, cần có lập luận chặt chẽ, minh chứng rõ ràng, ngôn ngữ sắc bén để phản bác, phải phân hóa đội ngũ của họ, cô lập kẻ xấu để tập trung đấu tranh. Cuối cùng cách bảo vệ đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta hiệu quả có thể nói gọn là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp cốt lõi sau: 1) Triển khai thành công trong thực tiễn các nghị quyết của Đảng về phát triển kinh tế bền vững, hài hòa mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội đất nước. 2) Thực hành rộng rãi, kiên trì việc duy trì kỷ cương phép nước, phòng, chống tham nhũng, chống quan liêu, lãng phí mạnh mẽ, tích cực hội nhập quốc tế mọi mặt kể cả kinh tế, tạo thành quốc lực ngày càng vững mạnh, trở thành quốc gia có nền kinh tế phát triển, có uy tín trên thế giới. 3) Chủ động, sáng tạo trong giải thích, thông tin, truyền thông tất cả đường lối, chính sách của Đảng để mọi công dân thấu hiểu, tự giác nâng cao nhận thức, giác ngộ trước các thủ đoạn chống phá của thế lực xấu. 4) Tích cực đấu tranh dư luận bằng các biện pháp phù hợp, kể cả trên mặt trận tư tưởng văn hóa, các diễn đàn, trên sách báo, trên các phương tiện truyền thông.
ThS. Nguyễn Đức PhúcBộ Ngoại giao

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2022
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí in trước năm 2010:
VIDEO CLIPS