Lý luận - Thực tiễn
Về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức và phát triển bền vững
15:37' 21/11/2011
Một góc của Vũng Tàu đang phát triển


Vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức lần đầu tiên được đề cập trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng. Thực chất là quá trình CNH, HĐH “rút ngắn” dựa trên tri thức; đó vừa là mục tiêu, vừa là phương thức để có thể thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.


Tuy nhiên việc “rút ngắn” quá trình CNH, HĐH cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết là làm thế nào để vừa có thể đi tắt, đón đầu, vừa giữ được tính bền vững trong từng bước phát triển. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa X được Ðại hội XI thông qua đều rút ra bài học trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức phải bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế.


Như vậy, Đảng ta đã chú ý nhiều hơn đến tính bền vững trong quá trình thực hiện CNH, HĐH “rút ngắn” dựa trên tri thức. Đây là một quan điểm mới, thể hiện sự đổi mới về tư duy lý luận của Đảng trong thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) phương hướng cơ bản để thực hiện các mục tiêu của thời kỳ quá độ đó là: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện CNH,HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…”(1).


Nội hàm phát triển bền vững nền kinh tế ở nước ta, Ðại hội XI xác định: Coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là yêu cầu ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Có sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phải luôn coi trọng việc bảo vệ và cải thiện môi trường sống. Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp đi lên xây dựng CNXH, trong bối cảnh toàn cầu hoá, để phát triển nền kinh tế tri thức cần tiến hành đồng thời và lồng ghép hai quá trình: chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và chuyển từ kinh tế nông - công nghiệp lên kinh tế tri thức trong điều kiện chuyển đổi cơ chế từ kế hoạch hoá, tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường định hướng XHCN.


Trong thời đại kinh tế tri thức, Việt Nam có thể bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian để đi ngay vào công nghệ tiên tiến, công nghệ cao. Song, điều đó không có nghĩa cho phép chúng ta có thể chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn mà bỏ qua những mục tiêu của phát triển bền vững.


Quán triệt quan điểm của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với tri thức và phát triển bền vững, nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống đòi hỏi chúng ta cần thực hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:


Một là, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Trong vấn đề này cần coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người; từng bước thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng sống và bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu cầu về văn hóa, giáo dục cho con người. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ. Phát triển mạnh các ngành, các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức. Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy năng lực sáng tạo ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri thức của thế giới.


Hai là, cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế tri thức.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 khẳng định: Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững... Phát triển nguồn nhân lực cần phải quan tâm cả phát triển con người và hiện đại hóa hoạt động giáo dục, đào tạo.


Ở đây, phát triển con người là nền tảng, hiện đại hóa giáo dục, đào tạo là trung tâm. Trong những năm tới, Nhà nước phải đầu tư hơn nữa để phát triển giáo dục. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn. Trong đó cần: Từng bước ứng dụng những công nghệ mới, hiện đại vào giảng dạy, không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Chú trọng đào tạo theo hướng tăng cường  ứng dụng, thực hành. Huy động mọi nguồn lực cho phát triển giáo dục - đào tạo. Tiến hành cải tiến công tác quản lý giáo dục - đào tạo. Cải cách giáo dục phổ thông. Tăng cường giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Gắn kết quá trình đào tạo ở nhà trường với đào tạo tại các doanh nghiệp. Đổi mới giáo dục đại học và cao đẳng theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo và gắn kết giữa giảng dạy, nghiên cứu và sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội. Tăng nhanh đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật có trình độ đại học, trên đại học và đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý, các doanh nhân. Mở rộng quan hệ hợp tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ với nước ngoài. Tuyển chọn đưa đi đào tạo ở các nước tiên tiến số lượng lớn cán bộ khoa học - kỹ thuật thuộc các lĩnh vực ưu tiên chiến lược.


Ba là, phát triển mạnh về khoa học công nghệ, tăng cường năng lực khoa học công nghệ quốc gia.

Cương lĩnh của Đảng nêu rõ: Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, phát triển kinh tế tri thức; góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Trong đó cần tập trung: Phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin, chuyển hướng phát triển các lĩnh vực trọng yếu sang chủ yếu dựa vào tri thức. Phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao. Tập trung ưu tiên đầu tư phát triển mạnh một số khu công nghệ cao đã và đang hình thành ở nước ta như: Công viên phần mềm Sài Gòn, Quang Trung, Khu công nghệ cao Láng - Hoà Lạc, trung tâm phần mềm Hải Phòng, công viên phần mềm Đà Nẵng, Trung tâm phần mềm Huế… coi đây là những hình mẫu, đầu tàu của khoa học công nghệ - công nghiệp quốc gia.


Cần đầu tư cao vào những ngành mũi nhọn của quốc gia như: công nghệ thông tin, nhất là công nghệ phần mềm; công nghệ số hoá, công nghệ năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học... Thu hút các tập đoàn xuyên quốc gia, có tiềm lực khoa học-công nghệ và tài chính mạnh đầu tư vào Việt Nam, khuyến khích xây dựng các trung tâm nghiên cứu-phát triển, tạo sự lan toả ra toàn bộ nền kinh tế.


Bốn là, phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong điều kiện khan hiếm các nguồn tài nguyên hiện nay, CNH, HĐH tác động không thuận đến môi trường tự nhiên. Do đó văn kiện Đại hội XI xác định: “Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, dự án đầu tư… Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; từng bước phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tiêu dùng sạch”(2). Để cụ thể hóa quan điểm đó cần: Tăng cường quản lý tài nguyên đất, nước, khoáng sản, rừng, bầu trời. Ngăn chặn các hành vi huỷ hoại môi trường, khắc phục sự xuống cấp, tích cực phục hồi môi trường, xử lý phế thải. Từng bước sử dụng công nghệ sạch, năng lượng sạch. Phủ xanh đất trống, đồi trọc. Hiện đại hóa công tác nghiên cứu, dự báo, chủ động phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên.


Như vậy, hướng tới các mục tiêu của phát triển kinh tế bền vững trong quá trình CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức đã được Đại hội Đảng XI quan tâm một cách đặc biệt. Đây đã trở thành một phần quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và Chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực, bộ phận của nền kinh tế ở nước ta. Đây chính là kết quả của quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta trong Đại hội XI. Ngày nay, trước yêu cầu cao hơn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn vào đời sống kinh tế quốc tế, cuộc cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu sẽ rất gay gắt, chúng ta cần tập trung nhiều hơn để thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm cho thành công của sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển nhanh và bền vững của nước ta.


……………………


1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG- ST., HN.2011, tr.75. 

2. Sđd, tr. 222.

Nguyễn Tuấn Dũng Hệ sau Đại học, Học viện Chính trị

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS