Lý luận - Thực tiễn
Kỷ niệm 62 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ 27-7:
 Uống nước nhớ nguồn - đền ơn đáp nghĩa là đạo lý của dân tộc ta
11:40' 27/7/2009


Lịch sử của dân tộc ta là lịch sử của một dân tộc yêu hoà bình, chính nghĩa, không chịu khuất phục, trải qua hàng nghìn năm đánh giặc, gìn giữ và xây dựng đất nước. Biết bao thế hệ anh hùng đã hy sinh, chiến đấu, để giữ gìn giang sơn gấm vóc, bảo vệ nền độc lập, xây dựng đất nước thanh bình. Truyền thống biết ơn những người có công với nước, đặc biệt là những người đã hy sinh thân mình vì sự sống còn của dân tộc, đã trở thành tình cảm và đạo lý của nhân dân ta.

Đền thờ các Vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh và những ngôi đền, những đình làng thờ các vị anh hùng có công với nước đã được tổ tiên ta dựng lên trên khắp đất nước, từ Bắc chí Nam. Những lễ hội hàng năm vẫn được diễn lại các sự tích anh hùng, để nhắc nhở cháu con về truyền thống của ông cha. Và hương hoa tưởng nhớ những người có công với nước, với dân, vẫn ngát thơm, truyền từ đời này sang đời khác.

Nối tiếp truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha, với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do", mấy chục năm qua, hàng triệu người con yêu quý của dân tộc đã ngã xuống. Máu đào của các liệt sĩ đã viết nên những trang sử vẻ vang. Sự hy sinh to lớn của các chiến sĩ đã đem lại cuộc sống hoà bình, xây dựng mà chúng ta đang sống hôm nay.

Ngày nay, dọc đường từ Bắc vào Nam, hàng vạn nghĩa trang liệt sĩ đã được nhân dân xây dựng, với tượng đài "Tổ quốc ghi công”. Đó chính là những biểu tượng về ý chí quật cường, về lòng yêu nước vô hạn, về sự hy sinh dũng cảm của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

Song đó cũng chính là những lời nhắc nhở chúng ta - những người đang sống - một nghĩa vụ thiêng liêng, về đạo lý "uống nước nhớ nguồn", một tấm lòng và hành động "đền ơn đáp nghĩa" với các gia đình liệt sĩ thương binh và những người có công với nước.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, trong bức thư gửi các chiến sĩ Nam bộ và Nam Trung bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:

"Các anh chị em đă đem xương máu ra để giữ lấy từng tấc đất của Tổ quốc. Tôi và tất cả đồng bào ở Bắc bộ và phía bắc Trung bộ đă bao nhiều lần tức giận khi nghe bọn thực dân Pháp đạp lên lãnh thổ của ông cha ta, giết hại nòi giống ta.

Đã bao nhiêu lần phấn khởi khi nghe những chiến công oanh liệt do những vị vô danh và hữu danh anh hùng của dân tộc tạo nên, đă bao nhiêu lần hồi hộp cảm động trước những gương hy sinh vô cùng dũng cảm của những người con yêu của Tổ quốc…”(1).

Năm 1947, từ chiến khu Việt Bắc, Bác gửi thư cho các thương binh và các thầy thuốc ở mặt trận:

"Các nam nữ chiến sĩ bị thương,

Tôi tiếp được nhiều thư của các nam nữ chiến sĩ bị thương, hăng hái hứa với tôi rằng: Hễ vết thương khỏi, thì lại xin ra mặt trận.

Lòng yêu nước, chí kiên quyết của các chiến sĩ thật là đáng quý!

Các chiến sĩ đã hy sinh máu mủ để giữ gìn đất nước. Nay đã bị thương mà còn mong mỏi ra sát địch ở trận tiền. Các chiến sĩ thực xứng đáng với Tổ quốc, và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên những người con yêu quý như thế…"(2).

Ngày 27-1-1947 Bác lại viết thư cho các chiến sĩ cảm tử quân:

“Cùng các chiến sĩ yêu quý trung đoàn Thủ đô.

… Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau…

Các em hăng hái tiến lên, lòng già Hồ, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn luôn ở bên cạnh các em…”(3).

Nhưng Bác Hồ kính yêu của chúng ta, không chỉ nặng lòng với sự nghiệp chung, Người còn đau những nỗi đau riêng của từng người, từng gia đình. Ngày nay vào thăm Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, chúng ta còn được đọc bút tích của Bác trong bức thư ngày 7-1-1947 gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng, một người theo đạo Thiên chúa, lúc đó là giám đốc y tế Bắc bộ:

“Thưa ngài,

Tôi được báo cáo rằng: Con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

… Ngài đă đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và vui sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi lời chào thân ái và quyết thắng”(4).

Hôm ấy, cùng vào thăm Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh với chúng tôi là một đoàn các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở tận phía Nam. Các bà má đã già, lặng lẽ, thành kính khi nhìn thấy những hiện vật giản dị nói lên tấm gương đạo đức của Bác Hồ kính yêu. Khi nghe giới thiệu đến bức thư này của Bác, nhiều bà mẹ đã không ngăn được nước mắt! Nỗi đau của mỗi người, của mỗi gia đình Việt Nam, dù ở Bắc hay Nam, Bác Hồ đều thấu hiểu và cảm thông.

Cũng đúng ngày 27 tháng 7 năm 1947 đầu tiên ấy, Bác Hồ đã gửi thư cho Ban Tổ chức Ngày thương binh toàn quốc. Kèm theo bức thư này, Bác đă gửi một chiếc áo, một tháng lương và số tiền một bữa ăn của Bác và các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, để góp vào quỹ ủng hộ thương binh.

Cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng của dân tộc ta đã viết nên những trang sử oai hùng. Dân tộc ta trong cuộc thử thách sống còn ấy, đã trải qua những ngày cách mạng sôi nổi nhất, lạc quan nhất, đầy tự hào nhất đối với lịch sử dân tộc mình và đối với cả loài người tiến bộ. Trẻ em khôn trước tuổi, người già như trẻ lại, phụ nữ đảm đang, từ đồng áng tới quân cơ. Thanh niên tiến ra mặt trận, với đội ngũ trùng trùng, điệp điệp… Người chết yên nghỉ sau khi đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang, người sống đua tài, thi sức, giết giặc lập công. Tất cả đều nô nức diệt thù, cứu nước, cứu nhà, với một tinh thần dũng cảm, ngoan cường và thanh thản lạ thường, giống hệt tư tưởng, tình cảm vĩ đại và phong cách cao quý của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Trương Định, Hồ Chí Minh...

Cuộc chiến tranh vệ quốc ấy đã đi qua, nhưng trên đất nước yêu quý của chúng ta, từ Bắc chí Nam, ở đâu cũng có những tắm gương, những tấm lòng và những hành động thể hiện tình cảm và đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa" của nhân dân ta.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng vạn những "ngôi nhà tình nghĩa" đã được xây dựng để phụng dưỡng những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những gia đình liệt sĩ, thương binh. Rất nhiều những nàng dâu, mặc dù đã đi bước nữa, nhưng vẫn chăm sóc bố mẹ người chồng đã hy sinh vì Tổ quốc như bố mẹ đẻ của mình.

Hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ ở nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường 9, cũng như biết bao nghĩa trang liệt sĩ khác trên toàn quốc vẫn được nhân dân thường xuyên chăm sóc, trồng hoa, hương khói. Các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và đặc biệt là các tổ chức cựu chiến binh, với nghĩa tình đồng đội đă coi việc chăm sóc các gia đình thương binh liệt sĩ, những người có công với nước là nhiệm vụ thường xuyên của mình.

Trên đất nước anh hùng của chúng ta, các liệt sĩ vẫn đêm ngày sống trong lòng tưởng nhớ của tất cả đồng bào. Và những anh em thương binh cũng đã vượt qua mọi khó khăn, hoà mình vào cuộc sống của đất nước, trở nên những người công dân kiểu mẫu, cũng như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận.

"Uống nước nhớ nguồn', "đền ơn đáp nghĩa" mãi mãi là tình cảm và đạo lý cao đẹp của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam!

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXB CTQG, H.2002, tập 4, tr.134.

(2, 3, 4) Sđd tập 5, 3, 35-36, 40.

Bùi Công Bính

Ý KIẾN BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT NÀY

Họ và tên : *  
Địa chỉ :  
Email : *  
Ý kiến của bạn : *

Mã bảo vệ :

 

Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS