Lý luận - Thực tiễn
Nhân kỷ niệm 191 năm Ngày sinh Các Mác (5-5-1818 - 5-5-2009):
Tầm cao trí tuệ
8:23' 4/5/2009


1. Di sản đồ sộ của C.Mác và Ph.Ăngghen để lại là tài sản vô giá cho nhân loại, cần được tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ.

Cho tới nay, theo tôi, nhân loại vẫn chưa được “nhìn thấy” toàn bộ tác phẩm của các ông. Nếu tôi không nhầm thì từ năm 1927 đến năm 1935 Liên Xô mới xuất bản được 12 tập (mỗi tập 1.000 trang), bao gồm 7 tập của Mác, 1 tập riêng của Ăngghen và 4 tập thư trao đổi giữa hai ông. Từ năm 1956 đến 1968 Viện Mác-Lênin Liên-xô và Viện Mác-Lênin Cộng hoà dân chủ Đức phối hợp xuất bản được 39 tập và 2 tập phụ lục. Năm 1975, Viện Mác-Lênin Liên-xô và Viện Mác-Lênin Cộng hoà Dân chủ Đức định phối hợp xuất bản toàn tập Mác-Ăngghen khoảng 100 tập, nhưng mới đến 50 tập thì Liên-xô tan rã, việc xuất bản phải dừng lại. Hy vọng đến một thời điểm nào đó toàn bộ tác phẩm của các ông sẽ được xuất bản đầy đủ.

Những điều trên cho thấy: Nhân loại ngày nay tuy đã tôn vinh C.Mác là nhà tư tưởng lớn nhất của thiên niên kỷ nhưng cũng vẫn chưa “với tới” tầm cao trí tuệ của con người khổng lồ ấy. Do vậy việc học tập C.Mác để hiểu và thực hiện được tư tưởng vĩ đại của ông thì phải học, học nữa, học mãi, học suốt đời, học lẫn nhau của nhiều thế hệ và ai cũng phải khiêm tốn thảo luận, lắng nghe rồi liên hệ, đối chiếu với thực tế mới mong tiến “gần” đến với C.Mác để hiểu C.Mác và vận dụng tư tưởng của ông vào giải quyết những vấn đề hiện nay của cách mạng. Trong số những người macxít của Việt Nam, Hồ Chí Minh là một người có cách học C.Mác độc đáo và hiệu quả nhất. Người học trên tác phẩm, học tinh thần và phép biện chứng của Mác đồng thời với nghiên cứu kỹ tình hình thực tế, kinh nghiệm thực tế (kinh nghiệm lịch sử cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, lịch sử cách mạng Nga, cách mạng thế giới; kinh nghiệm cách mạng trong nước v.v), đối chiếu, so sánh rồi tìm ra phương hướng chính trị để hành động.

Đáng tiếc là việc học tập lý luận hiện nay ở nơi này, nơi kia vẫn còn hình thức, học một cách giáo điều, học không liên hệ trực tiếp với cuộc sống đang biến đổi như vũ bão từng ngày, học chỉ cốt để lấy chứng chỉ, văn bằng... Ngay như các thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành cũng không phải không có người học một cách “hớt váng”, trích dẫn, sao chép lặp lại những lập luận cũ của những người khác.

2. C.Mác không phải là người “nhất thành bất biến”.

Trong những tác phẩm của C.Mác mà chúng ta được đọc, có lẽ “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” là cuốn được đọc nhiều nhất, tái bản nhiều lần và cũng là tác phẩm dễ đọc nhất. Nhiều học giả trên thế giới cho rằng “Tuyên ngôn...” là sự kết tinh, nhuần nhuyễn và thể hiện tài hoa nhất ba bộ phận cấu thành của học thuyết Mác. Tuy vậy, ngay lần xuất bản đầu tiên tác giả đã dự cảm rằng có thể có người giáo điều áp dụng máy móc những biện pháp đã nêu ra trong đó nên trong Lời nói đầu ông đã chỉ dẫn: “Trong những nước khác nhau, những biện pháp ấy dĩ nhiên sẽ khác nhau rất nhiều”(1). Rồi chỉ qua hai thập kỷ, khi tái bản “Tuyên ngôn...” bằng tiếng Đức, tác giả lại viết: “ở đôi chỗ có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên lý đó cũng phải tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II. Đoạn này, ngày nay mà viết lại thì về nhiều mặt, cũng phải viết khác đi. Vì công nghiệp đã có những bước tiến hết sức lớn... và giai cấp công nhân cũng đạt được những tiến bộ song song trong việc tự tổ chức thành chính đảng... cho nên hiện nay, cương lĩnh này có một số điểm đã cũ...”(2). “Tuy nhiên “Tuyên ngôn” là một tài liệu lịch sử mà chúng tôi không có quyền sửa lại”(3). Năm 1888 trong lời tựa khi tái bản bằng tiếng Anh (lúc này C.Mác đã qua đời), Ph.Ăngghen đã cho in lại nguyên văn đoạn trích ở trên.

Tác phẩm đồ sộ nhất của Mác là bộ Tư bản, sinh thời ông mới chỉ cho xuất bản tập 1, tập 2 và tập 3, tuy đã xong bản thảo nhưng ông vẫn trăn trở, suy đi tính lại 17 năm cho đến khi qua đời vẫn chưa cho xuất bản (tập 2 và tập 3 sau này được xuất bản là do Ph.Ăngghen thực hiện).

C.Mác là người rất nhạy bén với cái mới, ông nắm bắt nhanh chóng sự đổi thay của tình hình kinh tế-xã hội và những bước đi của phong trào công nhân. Do đó, những điều đã viết ông không cho là đã hoàn chỉnh mà luôn luôn muốn bổ sung, đính chính, sửa chữa để lý luận của ông không bị lạc hậu với thực tiễn. Với C.Mác, tư tưởng lý luận không bao giờ là “nhất thành bất biến”. Đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương pháp tiếp cận, phân tích kỹ càng, lấy thực tiễn để kiểm chứng, để nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của đời sống là bài học không bao giờ cũ mà C.Mác đã để lại cho hậu thế.

3. Xây dựng Đảng trong tư tưởng đổi mới của C.Mác.

Đối với C.Mác, tư tưởng cách mạng của Đảng phải luôn luôn vận động và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của xã hội (Hồ Chí Minh đã từng nói “Đảng cũng ở trong xã hội”). Chỉ có như vậy Đảng mới làm tròn nhiệm vụ của đảng tiền phong dẫn dắt nhân dân trong tất cả các giai đoạn đấu tranh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Nhưng vận động và phát triển không có nghĩa là xoá đi tất cả, hoặc xuất phát từ sự chủ quan nôn nóng, tuỳ tiện, ngẫu hứng của một cá nhân hay của một nhóm người nào mà là sự phát triển của trí tuệ trên cơ sở của phong trào hiện thực do quần chúng sáng tạo ra, nó “là một sản phẩm lịch sử, một kết quả hoạt động của cả một loạt thế hệ, thế hệ sau đứng lên vai thế hệ trước, cải tiến công nghiệp, thương nghiệp của mình và cải biến chế độ xã hội của mình tuỳ theo sự biến đổi của những nhu cầu của mình”(4). Chỉnh đốn, đổi mới, xây dựng Đảng phải xuất phát từ nguyên lý nói trên, bởi theo C.Mác “tổ chức của chủ nghĩa cộng sản, về thực chất, là có tính chất kinh tế; nó là sự sáng tạo vật chất ra những điều kiện cho sự liên hợp ấy; nó biến những điều kiện hiện có thành những điều kiện của sự liên hợp”(5).

Nhưng sự phát triển kinh tế, sự sáng tạo vật chất lại do con người của xã hội đương đại, mà những người cộng sản phải là những chiến sĩ tiên phong trong cuộc đấu tranh cho sự sáng tạo ấy. “Trong cuộc đấu tranh đó, sẽ phải đến lúc mà chỉ có một đảng kiên quyết nhất, không dừng lại trước cái gì cả, mới có thể cứu được dân tộc, đồng thời cũng sẽ tạo ra được những điều kiện mà chỉ có chúng thì mới có thể vứt bỏ hẳn toàn bộ những thứ đồ cũ vô dụng”(6). Đã là sản phẩm của lịch sử thì yêu cầu đối với người đảng viên ở mỗi thời kỳ lịch sử cũng khác nhau. Song có những phẩm chất lại đòi hỏi thời nào cũng cần phải có, nếu không sẽ biến chất, thoái hoá không còn là người cộng sản đích thực nữa. Theo C.Mác thì những phẩm chất đó là:

Dân chủ theo đúng nghĩa đích thực của nó. Đấu tranh để thực hành dân chủ trong Đảng là đảm bảo trên thực tế dân chủ cho toàn xã hội. Mác đã viết: “bản thân những người cộng sản lại là những người dân chủ trong tất cả các vấn đề thực tiễn của đảng”(7). Suy nghĩ về điều này và đối chiếu với thực tế, chúng ta càng thấm thía vì sao trong Di chúc, Hồ Chí Minh đã dặn trong Đảng phải “thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình”(8).

Mất dân chủ nội bộ thì Đảng sẽ mất thứ của cải quý báu nhất để sinh tồn, mất sức mạnh của một tập thể của những người ưu tú cùng lý tưởng và mất tình đồng chí thiêng liêng, mất đoàn kết. Có nghĩa là mất dân chủ là mất tất cả. Đối lập với dân chủ là quan liêu, là độc đoán chuyên quyền, là phi tính đảng.

Có “lối sống và hoạt động phù hợp với mục đích”(9) của Đảng.

Những người có lối sống “vương giả”, xa hoa, coi tiền của nước, của dân như của “trời cho”, tìm mọi cách bòn rút, vơ vét, chiếm đoạt, những người quan liêu, vô trách nhiệm, không chịu lắng nghe để cho biết bao dự án, công trình dang dở, gây ra biết bao lãng phí, thất thoát, hao tổn và cả những gian truân nhọc nhằn cho không ít người dân lương thiện cả tin mà không dám nhận trách nhiệm, mà chỉ đổ vấy, đùn đẩy và lảng tránh thì không thể là người đảng viên cộng sản. Trong bộ máy của Nhà nước chúng ta, bên cạnh những đồng chí thực sự trung với nước, hiếu với dân, vẫn còn lẫn vào “‘nào quan, nào sếp, nào cò, nào người vờ vĩnh giả vờ ưu tư”. Trong hội nghị, khi đứng trước cấp dưới và quần chúng thì hô hào, huấn thị nhưng “làm thì lối tắt đường ngang xoay tiền”. Xoay tiền để chạy chức, chạy quyền, chạy dự án và cả chạy án nữa. Cần thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu lực và hiệu quả lời tuyên bố đanh thép của Đảng: “Thường xuyên sàng lọc đảng viên, kiên quyết đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng... Khai trừ những đảng viên thoái hóa về chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu cố tình vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước...”(10).

Không ít lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều văn kiện của Đảng đã cảnh tỉnh rằng một số không ít đảng viên đã có lối sống xa rời mục tiêu lý tưởng của Đảng, biến chất thành những con người xa lạ với nhân dân, bị nhân dân khinh ghét. Lối sống và hành động của họ đang thật sự là nguy cơ của Đảng, của chế độ. Tệ hại hơn là họ lại nhân danh “làm theo” các vĩ nhân (C.Mác, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh...) để mị dân, thực chất họ là những kẻ bất kính, vô đạo và phản bội các vĩ nhân.

Phải có “nghị lực cách mạng và lòng nhiệt thành”(11).

Nói đến nghị lực là đề cập tới ý chí, sức mạnh vượt qua mọi trở lực, dám dũng cảm đương đầu và vượt qua khó khăn, trở lực để hoàn thành một công việc nào đó. Sự nghiệp càng lớn, chức quyền càng cao thì nghị lực càng phải kiên cường. Nghị lực do động cơ chi phối. Động cơ chính là “lương tâm” của con người, người ta có thể vượt qua mọi nguy nan mà ngay cả cái chết cũng không thể dập tắt được để hoàn thành một sự nghiệp vĩ đại vì lý tưởng cao đẹp. Ngược lại, kẻ có “tâm địa” đen tối, nhỏ nhen, tham lam, vụ lợi thì hầu hết là kẻ bất lương, vô cảm, tàn bạo, chỉ biết vì mình bất chấp đồng loại.

Cuộc đời có biết bao trở lực ngăn bước đi của mỗi người, đòi hỏi người ta phải có nghị lực để vượt qua. Nhưng theo C.Mác thì trở lực lớn nhất đối với con người, trước hết và khó khăn nhất là yếu tố nội tâm của chính mỗi người. Đó là dục vọng tầm thường, lòng si mê quyền lực, cuồng vọng về địa vị, tiền bạc, của cải, là sự ích kỷ và vô cảm trước nỗi nhọc nhằn, gian truân, thậm chí cả sự đau khổ, oan khiên của đồng chí, đồng bào. Chính vì thế mà từ C.Mác đến Hồ Chí Minh đều cho ta những lời khuyên: “Phải... cả quyết sửa lỗi mình... Không hiếu danh, không kiêu ngạo... Giữ chủ nghĩa cho vững... ít lòng tham muốn về vật chất...”(12).

Nhiệt thành là tình cảm đạo đức của con người đối với công việc, với tổ chức và với người khác. C.Mác yêu cầu người cộng sản phải có nhiệt tình sôi nổi và có trí tuệ sáng suốt, đem hết sức lao động, cống hiến với lòng chân thành, trung thực và thuỷ chung. Trung thực với chính mình, với tổ chức, với Đảng, với đồng bào, đồng chí. Dối trá là thói quen của kẻ gian manh, lừa đảo, là đối lập với lòng trung thành, là đồng nghĩa với bất tín và phản bội.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cách mạng chân chính, theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Đảng đang có sứ mệnh to lớn trước dân tộc là củng cố và xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hoà bình, dân chủ giàu mạnh, văn minh, làm cho mọi người dân đều được hưởng tự do, hạnh phúc dài lâu. Nhất định Đảng sẽ tự chỉnh đốn, đổi mới và phát triển, tiến lên dưới ánh sáng chỉ đường của các nhà tư tuởng vĩ đại C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh.

____

(1, 2, 3, 4, 5, 7, 10, 12) C.Mác, Ph.Ăngghen, Tuyển tập, NXB Sự Thật, H.1980, tập 1, tr.568, 504, 505, 282, 283, 350, 425, 493. (6) Sđd, tập 2, tr.707. (8) Hồ Chí Minh, toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.510. (9) C.Mác-Ph.Ăngghen, Tuyển tập, NXB Sự Thật, H.1980, tập 1, tr.493. (10) (Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X của ĐCSVN, tr.301. (11) C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập, NXB Sự Thật, H.1980, tập 1, tr.493. (12) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 2, tr.260.

PGS. Trần Đình Huỳnh
Bài cùng chuyên mục
Sự khai phá vĩ đại    (5/6/2009)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 8 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS