Lý luận - Thực tiễn
Công tác tổ chức xây dựng đảng ở miền Trung và Tây Nguyên trong năm qua
18:2' 7/1/2009


Năm 2008, công tác tổ chức xây dựng đảng các tỉnh, thành phố khu vực miền Trung và Tây Nguyên có những chuyển biến đáng khích lệ. Đã có 13/13 tỉnh, thành phố tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; sơ kết hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp; sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị (khóa IX) về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện các nghị quyết Trung ương 4, 5, 6, 7 (khoá X), các địa phương đã có kế hoạch thực hiện và triển khai một số nghị quyết về xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số; xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ ở trong nước và ngoài nước theo chỉ đạo của Trung ương.

Quán triệt Quyết định số 50-QĐ/TW ngày 3-5-1999 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 11- HD/TCTW ngày 30-10-2002 của Ban Tổ chức Trung ương về Quy chế đánh giá cán bộ, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy đều có kế hoạch chỉ đạo, thực hiện các khâu của công tác cán bộ đúng quy trình và đi dần vào nền nếp. Tập thể ban thường vụ và cá nhân ủy viên ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành ủy đều nghiêm túc kiểm điểm với tinh thần trách nhiệm, tự phê bình và phê bình cao, gắn với việc thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Thực hiện Nghị quyết 42-NQ/TW ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 22-HD/BTCTW ngày 21-10-2008 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý…, các địa phương đã có văn bản chỉ đạo, tiến hành quy hoạch cán bộ theo đúng hướng dẫn. Đến nay, 13/13 tỉnh, thành phố có quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2010-2015. Ban Tổ chức Trung ương đã xác nhận quy hoạch các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý gồm 42 bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; 71 phó bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ; 47 chủ tịch HĐND tỉnh, thành phố; 46 chủ tịch UBND tỉnh, thành phố.

Bổ sung, kiện toàn các chức danh chủ chốt diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý của các tỉnh, thành có biến động về nhân sự được thực hiện kịp thời, đúng quy trình. Năm 2008, toàn khu vực đã kiện toàn 2 chức danh bí thư tỉnh ủy; bầu và chỉ định bổ sung 11 phó bí thư tỉnh uỷ; bầu bổ sung 3 chủ tịch HĐND tỉnh, 3 chủ tịch UBND tỉnh; Ban Bí thư chỉ định bổ sung 22 đồng chí tỉnh ủy viên. Đồng thời bầu bổ sung 19 ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, 3 phó chủ tịch HĐND tỉnh, 8 phó chủ tịch UBND tỉnh. Ban thường vụ các tỉnh uỷ, thành ủy chỉ đạo thống nhất quy trình chỉ định bổ sung 180 đồng chí là cấp ủy viên các huyện, thị, thành ủy và tương đương; chuẩn y và bổ sung 74 ủy viên ban thường vụ huyện, thị, thành ủy và tương đương; giới thiệu để bầu 109 đồng chí giữ các chức danh bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, chủ tịch, phó chủ tịch UBND cấp huyện, chủ tịch, phó chủ tịch Mặt trận và các đoàn thể; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 388 giám đốc, phó giám đốc các sở, ban, ngành và tương đương (ở cấp tỉnh); hiệp y với các cơ quan bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 41 đồng chí thuộc các ngành dọc đóng trên địa bàn; luân chuyển 23 cán bộ từ các ngành của tỉnh về làm cán bộ chủ chốt cấp huyện.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng được quan tâm đúng mức, nhờ đó đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp không ngừng được nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Trong năm, đã có 1.547 cán bộ tham gia đào tạo cử nhân, cao cấp lý luận chính trị; 3.296 đồng chí học các lớp trung cấp lý luận chính trị; 2.016 đồng chí được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đặc biệt có 32 đồng chí trong diện quy hoạch được cử đi đào tạo sau đại học ở nước ngoài bằng ngân sách địa phương (Đà Nẵng, Bình Định).

Chế độ, chính sách cán bộ cũng được các tỉnh uỷ, thành ủy vận dụng vào đặc thù của địa phương như: Chế độ nghỉ việc chờ nghỉ hưu đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; chính sách thu hút người có trình độ cao về công tác tại địa phương; chính sách đối với cán bộ điều động, luân chuyển; chính sách hỗ trợ cho cán bộ là người dân tộc thiểu số đi học văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị; chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại xã, phường, thị trấn và chế độ trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở cơ sở; chính sách hỗ trợ đối với cán bộ học sau đại học ở trong nước và nước ngoài. Việc thực hiện chế độ, chính sách cho cán bộ tại các địa phương đã được vận dụng một cách linh hoạt, có sự đãi ngộ thích đáng giúp cán bộ, đảng viên yên tâm công tác và rèn luyện.

Công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng được các cấp ủy chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Việc thành lập chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn bước đầu phát huy được vai trò hạt nhân lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Năm 2008, toàn khu vực đã thành lập được 610 chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở; 1.178 chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn; 63 chi bộ, đảng bộ cơ sở; “xoá” được 109/1.323 thôn, buôn, làng, tổ dân phố, trường học chưa có tổ chức đảng. Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên hằng năm được thực hiện có nền nếp. Số tổ chức cơ sở đảng được đánh giá năm 2007 trong toàn khu vực là 9.183/9.303 chiếm 98,71%; số đảng viên được đánh giá là 371.000/399.891 chiếm 92,9%.       

Công tác phát triển đảng viên mới đã được các cấp ủy đảng tập trung chỉ đạo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Trong năm, toàn khu vực kết nạp được 20.910 đảng viên mới (Đăk Lắc 2.220 đảng viên; Quảng Nam 2.124 đảng viên; Gia Lai 2.060 đảng viên…). Phát thẻ đảng cho 15.149 trường hợp, xét và tổ chức trao tặng 10.061 Huy hiệu Đảng các loại.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được các địa phương quán triệt và tổ chức thực hiện chặt chẽ, thận trọng, kịp thời, phục vụ tốt cho công tác xây dựng đảng của địa phương. Việc rà soát quan hệ lịch sử chính trị và vấn đề chính trị hiện nay được thực hiện thường xuyên. Hầu hết cán bộ trong diện quy hoạch ở các cấp đều được rà soát phục vụ cho đề bạt, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ. Năm 2008, các cấp ủy đã thực hiện sưu tra 4.601 trường hợp; thẩm định tiêu chuẩn, quan hệ lịch sử chính trị và chính trị hiện nay 2.428 trường hợp; phối hợp giải quyết 36 đơn thư tố cáo, khiếu nại có liên quan đến vấn đề tiêu chuẩn chính trị của cán bộ thuộc diện thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quản lý; thẩm định 153 trường hợp cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác tổ chức xây dựng đảng còn những hạn chế: Về tổ chức bộ máy khi được hợp nhất, thành lập mới còn trùng lặp về cơ cấu, nhiệm vụ, thẩm quyền; về tiêu chuẩn cán bộ, đánh giá, quy hoạch và sử dụng cán bộ; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, công chức chưa được chú trọng, một số cán bộ có biểu hiện thiếu yên tâm, trì trệ làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bộ máy. Việc bổ sung kiện toàn một số chức danh cán bộ ở một số địa phương chưa kịp thời, có nơi mang tính cục bộ, thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Chế độ, chính sách đối với cán bộ còn nhiều bất cập, chưa đủ sức thu hút và giữ chân cán bộ, công chức có năng lực; biên chế, tuyển dụng cán bộ, công chức còn gặp nhiều khó khăn. Vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở một số nơi chưa được phát huy, triển khai thực hiện còn chậm; nhiều chương trình, kế hoạch còn hình thức, chưa cụ thể hóa cho phù hợp với địa phương. Công tác kết nạp đảng viên gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các vùng tôn giáo, dân tộc và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quản lý đảng viên còn lúng túng, chưa chặt chẽ đối với số đảng viên tại địa phương đi làm ăn xa. Chất lượng sinh hoạt chi bộ thấp, chưa đảm bảo 3 tính chất trong sinh hoạt chi bộ, các buổi sinh hoạt chuyên đề hiệu quả chưa cao; ở một số nơi đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên chưa thực chất. Chất lượng tham mưu trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa chủ động, có mặt còn lúng túng. Việc phát hiện và nắm bắt tình hình nội bộ chưa sâu sắc, thiếu kịp thời. Sự phối hợp với các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ. Việc cán bộ, đảng viên đi công tác, học tập và có quan hệ với người nước ngoài còn bất cập.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức xây dựng đảng năm 2009, cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, cụ thể hóa, thể chế hóa các nghị quyết Trung ương 4, 5, 6, 7 (khóa X). Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm bộ máy tinh gọn, năng động, có hiệu lực, hiệu quả. Gắn xây dựng tổ chức cơ sở đảng với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, chất lượng đảng viên, phù hợp với tình hình của từng địa phương. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

Hai là, triển khai thực hiện những kết luận của Hội nghị Trung ương 9 (khóa X). Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, tập trung tạo được chuyển biến trong đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, thực hiện chính sách cán bộ. Nhất là làm tốt công tác tham mưu, chuẩn bị nhân sự đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XI của Đảng.

Ba là, căn cứ vào tình hình thực tế địa phương, đề xuất một số kiến nghị với Trung ương về: Tăng thêm phó bí thư phụ trách cơ sở phục vụ cho luân chuyển cán bộ; thực hiện giao chỉ tiêu biên chế sớm cho một số địa phương; bổ sung một số quy định, quy chế về cán bộ và chính sách cán bộ... Triển khai thí điểm một số chủ trương về “bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND nơi không tổ chức hội đồng nhân dân”, “đại hội đảng bộ cơ sở bầu cấp ủy, ban thường vụ, bí thư và phó bí thư”.

Bốn là, kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng đảng ở các cấp gắn với thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Phạm Quang Hà
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS