PGS Trần Đình Huỳnh
|
 |
|
C. Mác và Ph.Ăngghen |
Vĩ nhân nào cũng đều là người của một thời, của những hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định. Họ có sự nghiệp, nhân cách, hành vi góp phần làm biến đổi một hay nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đương thời. Tầm ảnh hưởng rộng lớn và giá trị trường tồn của mỗi người trong số họ phụ thuộc vào những dấu ấn nổi trội tới mức nào mà họ đã tạo ra có sức lay động, thức tỉnh, soi sáng vào tâm hồn, lẽ sống, niềm tin cho những người cùng thời và cho hậu thế.
Người ta đã và sẽ còn tốn nhiều công sức để thảo luận, tranh luận về tầm ảnh hưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với sự phát triển của nhân loại từ thế kỉ thứ XIX về sau. Sự đánh giá đó có thể khác nhau tuỳ theo tầm nhìn, giác độ, chỗ đứng và tâm trạng của những người nghiên cứu. Song có một điều hiển nhiên, không ai có thể phủ nhận được là sự đóng góp to lớn của C.Mác và Ph.Ăngghen vào dòng chảy chung của văn hoá nhân loại nếu ta hiểu văn hoá là sự sáng tạo, đổi mới và phát triển, là những cái thuộc về lòng nhân ái, vị tha, sự sáng suốt và lòng dũng cảm đấu tranh cho cái thiện và cái đẹp; là cách mạng, cách mạng không ngừng để chống lại những gì mất nhân tính, thiết lập quan hệ ứng xử giữa con người với con người trên đỉnh cao của tình nhân ái.
Lịch sử văn hoá, văn minh nhân loại đã xác định tình bạn (bằng hữu) là một trong những mối quan hệ cơ bản nhất của xã hội. Một trong những dấu ấn văn hoá đặc sắc mà Ph.Ăngghen đã để lại cho nhân loại là tình bạn - tình đồng chí giữa ông và C.Mác góp phần giữ cho xã hội ấy tồn tại và phát triển.
Khái niệm tình bạn và tình đồng chí có sự giống nhau và cũng có sự khác nhau, có khi lại đồng nhất, thống nhất với nhau. Cái giống nhau trước hết là ở chỗ đều có tình (đồng tình), ở sự ham muốn, mơ ước và khát vọng. Tình bạn bắt nguồn từ cảm tính, ở trực giác, tác động của các giác quan (ánh mắt, nụ cười...) thông qua sự tiếp xúc gần gũi (cùng học tập, lao động, vui chơi…), ở sự đồng điệu về sở thích, tâm hồn và lối sống. Từ cảm tính mà có cảm tình với nhau, rồi từ cảm tình người ta tiến tới những sự gắn kết về lí trí. Tình bạn chân chính, sâu sắc, lâu bền bao giờ cũng đi từ sự bồng bột, sôi nổi, đôi khi say đắm rồi đến yêu thương, quý trọng và đồng điệu tâm hồn, về tư tưởng, hành động tới mức có thể sẵn sàng hi sinh vì nhau. Khi ấy lí trí soi sáng, dẫn dắt đường đi cho tình cảm; và tình yêu thương gắn kết làm cho lí trí có linh hồn. Thế là từ tình bạn đã phát triển, chuyển hoá tự nhiên thành tình đồng chí.
Tình đồng chí cũng lại có con đường đi riêng, nó bắt đầu từ lý tưởng. Người ta có thể chưa quen biết nhau, không cùng hoàn cảnh sống và môi trường giáo dục, thậm chí khác cả tiếng nói, màu da và sắc tộc nhưng người ta có thể gặp nhau trước hết ở quan điểm, tư tưởng, quan niệm, chí hướng và mục đích sống; cùng tham gia một tổ chức để chiến đấu cho mục tiêu lý tưởng chung. Khi ấy họ trở thành những người đồng chí. Ph.Ăngghen đã từng nói rằng từ đồng chí không phải là một tước vị, cũng không phải là một đại danh từ để gọi chung tất cả mọi người mà nó chỉ có giới hạn là để chỉ những người cùng chung một tổ chức với nhau. Những người đồng chí có thể ở xa ta, ta chưa hề gặp mặt, từ bốn phương trời ta bỗng quen nhau bởi ta là đồng chí.
Từ lí trí, lí tưởng mà sinh tình: tình đồng chí; mà đã là đồng chí thì ắt phải đồng tâm, đồng tình. Tình đồng chí là mối tình sâu sắc và bền vững, rộng lớn, sắt son trong một tổ chức cách mạng chân chính. Đã là đồng chí thì phải có tình yêu thương, sống với nhau sao cho có tình, có nghĩa. Khi ấy tình đồng chí hòa đồng với tình bạn, một tình bạn cao cả chân thành, trong sáng cùng hướng tới một chân trời rộng mở, một tương lai tốt đẹp không chỉ riêng cho hai người bạn mà cho cả tổ chức, cả cộng đồng, cả đồng bào, quốc gia, dân tộc... Với ý nghĩa ấy, tình đồng chí là cao hơn tình bạn thông thường, đơn lẻ; và, tình bạn sẽ càng sâu sắc, tốt đẹp, vững bền hơn khi nó trở thành tình đồng chí.
Ph.Ăngghen sinh ngày 28-11-1820 tại thành phố Bác-men, tỉnh Ranh (nước Đức) trong một gia đình tư sản sùng tín tôn giáo. Từ một học sinh đầy mơ mộng, một chàng trai giàu lòng nhân đạo, nồng nhiệt yêu tự do đã dùng thi ca làm vũ khí biểu lộ sự đồng tình với nhân dân và khát vọng tương lai. Tốt nghiệp tú tài, Ph.Ăngghen vâng lời cha thôi học, theo nghề kinh doanh thương mại. Những quan sát xã hội và hoạt động thực tiễn đã làm biến chuyển thế giới quan và tư duy chính trị của ông. Từ con đường tự học, học trong sách báo, trong các câu lạc bộ bác học, trong tổng kết thực tiễn và trong sự phẫn nộ với xã hội đương thời, Ph.Ăngghen đã trở thành một nhà bác học. Trên con đường học tập và nghiên cứu, Ph.Ăngghen đã gặp C.Mác một cách gián tiếp thông qua đọc các tác phẩm của C.Mác. Dần dần từ việc nghiên cứu triết học, kinh tế chính trị học, hai ông đã tìm đến nhau rồi trở thành những người đồng chí - những người đồng sáng lập nên một học thuyết cách mạng dẫn đầu thời đại.
C.Mác sinh ngày 15-5-1818 ở thành Tơ-ri-a thuộc tỉnh Ranh (nước Đức) trong một gia đình trí thức (cha ông là luật sư). Từ nhỏ ông đã được giáo dục và hun đúc trong tinh thần khai sáng của chủ nghĩa tự do, nhân đạo và lý tính. Ông tốt nghiệp tú tài rồi vào học khoa Luật tại trường Đại học Tổng hợp Bon, sau chuyển sang học trường Đại học Béc-lin, một trung tâm nghiên cứu về triết học. Mác đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ triết học, rồi vừa nghiên cứu vừa tổng kết thực tiễn, ông cùng với Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Hai con người xa lạ, từ những hoàn cảnh xuất thân, môi trường giáo dục và quá trình đào tạo rất khác nhau đã trở thành hai người đồng chí rồi sau trở thành hai người bạn, một tình bạn vĩ đại và cảm động, gắn quyện tình đồng chí sắt son chung thuỷ tới mức mà sau khi C.Mác qua đời Ph.Ăngghen đã đề xuất rằng những công trình sáng tạo riêng cũng như những công trình hợp tác chung của hai người nên lấy tên là học thuyết C.Mác.
Lần hợp tác lý luận đầu tiên giữa C.Mác và Ph.Ăngghen là tháng 8-1844 ở Pa-ri. Không giống như một lần gặp mặt trước đó diễn ra rất lạnh nhạt, lần này thì hoàn toàn khác vì đã đọc của nhau một cách rất cẩn trọng nên đã “yêu nhau vì nết, trọng nhau vì tài”. Sau này Ph.Ăngghen đã kể lại rằng “Vào mùa hạ năm 1844, khi tôi đến thăm Mác ở Pa-ri, chúng tôi thấy rằng chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhau về tất cả các vấn đề lý luận và chính từ lúc đó, chúng tôi bắt đầu cộng tác với nhau”(1). Cuộc gặp gỡ ở Pa-ri không những đã xây dựng tình bạn của hai ông vì mục tiêu chung, mà bằng công việc của mình, các ông đã hỗ trợ nhau rất nhiều khiến thiên tài và trí tuệ của mỗi người bổ sung cho nhau một cách rất kỳ diệu. Do đó ý nghĩa của cuộc gặp gỡ ở Pa-ri là ở chỗ: Một mặt, đối với sự ra đời của lý luận cách mạng của giai cấp công nhân, nó mang ý nghĩa đáp ứng nhu cầu của thời đại; mặt khác, xét về tiến trình tư tưởng của hai người thầy vĩ đại của cách mạng lại có tính tất yếu nội tại. Hai mặt đó biểu hiện tập trung ở sự bắt đầu cộng tác của hai ông cùng nhau xây dựng quan điểm duy vật lịch sử. Đứa con tinh thần của hai người là cuốn sách Gia đình thần thánh.
Tháng 2-1845 vì bị Chính phủ Pháp trục xuất nên C.Mác cùng với gia đình đã phải tới Brúc-xen (Bỉ). Tháng 4 năm ấy, Ph.Ăngghen cũng phải rời quê hương sang cư trú tại đây.
Nếu lần gặp ở Pa-ri mở đầu cho sự hợp tác sáng tạo suốt đời của hai người bạn cùng chí hướng (đồng chí) thì lần gặp gỡ này đánh dấu việc xây dựng nên một học thuyết vĩ đại hoàn chỉnh: chủ nghĩa duy vật lịch sử. “Đứa con” xuất sắc mở đầu cho sự hợp tác lần này là tác phẩm Hệ tư tưởng Đức. Khoảng giữa hai lần gặp gỡ (trước khi đến Brúc-xen) Ph.Ăngghen đã chuyên tâm cho ra mắt tác phẩm của riêng mình là Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh. Khi C.Mác bị trục xuất sang Brúc-xen, đời sống rất khó khăn thiếu thốn. Ph.Ăngghen đã chuyển toàn bộ số tiền nhuận bút của cuốn sách nói trên để giúp đỡ C.Mác với những lời lẽ chí tình: “ít ra thì lũ chó ấy cũng không thể hí hửng về việc đã có hành động đốn mạt gây khó khăn cho anh về tiền nong”(2).
Từ đây, trên con đường nghiên cứu khoa học và hoạt động đấu tranh cho sự ra đời và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản khoa học cả trên bình diện lý luận, tư tưởng lẫn trong đời sống chính trị, Ph.Ăngghen đã luôn là người bạn, người đồng chí chung thuỷ, sát cánh bên cạnh C.Mác, chia bùi sẻ ngọt, đồng cam cộng khổ với C.Mác, bảo vệ và tôn trọng Mác cho tới ngay cả sau khi C.Mác qua đời.
Ta biết rằng suốt cả cuộc đời, C.Mác đã được Ph.Ăngghen hy sinh, giúp đỡ cho cả gia đình ông về vật chất cũng như tinh thần. Nếu không có sự giúp đỡ hết lòng của Ph.Ăngghen, C.Mác khó có điều kiện vật chất để hoàn thành những tác phẩm đồ sộ của mình. Nhưng không chỉ có thế, trên bình diện lý luận, ngoài những tác phẩm thiên tài của riêng mình, Ph.Ăngghen còn giúp đỡ C.Mác rất nhiều về mặt khoa học. Không ai có thể phủ nhận thiên tài của C.Mác khi nghiên cứu kinh tế chính trị học thể hiện ở bộ Tư bản vĩ đại nhưng cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng to lớn và sự cộng tác cụ thể của Ph.Ăngghen đối với C.Mác khi hoàn thành tác phẩm đó. Chính C.Mác trước khi cho xuất bản bộ Tư bản tập I đã bày tỏ sự chân thành với Ph.Ăngghen, đề nghị ông cùng đứng tên với tư cách đồng tác giả nhưng Ph.Ăngghen đã khiêm nhường từ chối. Ngay cả những tác phẩm hai người cùng trực tiếp viết, Ph.Ăngghen bao giờ cũng nhún nhường tuyên bố: Phần ông đóng góp như thế nào thì tuỳ độc giả nhận xét nhưng tư tưởng chủ đạo của các tác phẩm ấy hoàn toàn là của bạn ông, C.Mác.
Sau khi C.Mác qua đời, Ph.Ăngghen là người duy nhất có quyền công bố những tác phẩm của C.Mác (kể cả những tác phẩm chưa xuất bản) nhưng cho đến trước khi trút hơi thở cuối cùng ông vẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng công lao sáng lập ra triết học và khoa kinh tế chính trị học Mácxit chủ yếu thuộc về C.Mác. Không những thế, ông còn viết tiếp một số tác phẩm để bổ sung làm sáng tỏ cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử (như cuốn Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước...) với một lời thành kính rằng: Viết là để thực hiện di chúc của người quá cố, C.Mác.
Nhìn vào toàn bộ kho tàng lý luận đồ sộ của chủ nghĩa Mác, ai cũng thấy rõ sự đồng sáng tạo của cả C.Mác và Ph.Ăngghen, nhưng bao giờ Ph.Ăngghen cũng khẳng định rằng C.Mác là một thiên tài, còn ông may lắm thì chỉ là một người có tài; rằng ông chỉ là một cây vĩ cầm bé nhỏ bên cạnh C.Mác.
C.Mác và Ph.Ăngghen không những để lại cho nhân loại một khối lượng tri thức khoa học khổng lồ mà các ông còn để lại cho chúng ta một tấm gương về nhân cách ngàn năm sáng chói. Kỷ niệm lần thứ 188 Ngày sinh của Ph.Ăngghen vĩ đại, chúng ta tự hào vì đã và đang tiếp bước các ông đấu tranh cho một thế giới công bằng, nhân ái, tự do, hạnh phúc như lý tưởng và hoài bão của ông và C.Mác, bạn ông.
Chúng ta rất tự hào vì Tổ quốc ta, nhân dân ta thời đại nào cũng có những nhân cách lớn, thể hiện tính trung thực và công bằng khi đối xử với những người cộng sự, những người đồng chí, bè bạn và cấp dưới, những người giúp việc mình. Một ví dụ nhỏ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong mấy thập niên vừa qua đã cho ra đời một số Hồi ký có giá trị lý luận rất cao về khoa học và nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Tư tưởng và nội dung những cuốn sách đó hoàn toàn là của ông. Khi giao cho một nhà văn quân đội thể hiện, ông đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, trực tiếp sửa chữa bản thảo (cả nội dung, văn phong và cấu trúc) nhưng đến khi xuất bản, bao giờ ông cũng yêu cầu ghi tên người thể hiện bên cạnh tên ông, tác giả cuốn sách.
Nhưng cũng thật đáng buồn, trong những năm gần đây đã và đang xuất hiện không ít tình trạng đạo văn, lạm dụng chức quyền chiếm dụng công trình của người khác, của người dưới quyền để vừa lấy danh, vừa lấy lợi. Một số nhà khoa học, nhà văn, nhà báo, có người là đảng viên cộng sản, đem nhau ra toà đòi quyền tác giả. Đó chỉ là bề nổi, chiều sâu của hiện tượng một số người này chiếm dụng công trình với biết bao công sức, trí tuệ của người khác thì không mấy khi được nêu ra trong các buổi sinh hoạt chi bộ để chí ít nhắc nhở về tính trung thực của một người cộng sản.
Thật là bất kính khi có một số người mang danh là người mácxit mà lại có những hành vi tranh giành danh vọng, địa vị, quyền chức với nhau, thậm chí chèn ép nhau, vu khống nhau, cướp công của nhau, dìm đồng chí mình xuống để ngoi lên. Bác Hồ đã từng phê phán những người vì mục đích tư lợi mà đối xử bất công, thậm chí tàn nhẫn với những người được coi là bạn bè, đồng chí. Khi còn sống, Người hằng khuyên: Trong Đảng phải chân thành, thật thà, trung thực và thẳng thắn với đồng chí mình, với cấp dưới và nhân dân. Trước khi từ giã thế giới này, Người còn dặn lại: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” (Di chúc).
Truyền thống đạo lý của dân tộc ta đã từng khuyên dạy những người học trò chân chính phải có trách nhiệm giữ lấy lề thói, phép tắc và đạo đức mà những người thầy đáng kính của mình đã dạy và nêu gương n
__
(1) Các Mác và Ăngghen toàn tập, NXB CTQG, H.1995, tập 21, tr.321. (2) Sđd, tập 27, tr.35.
PGS. Trần Đình Huỳnh