Kon Tum hiện có 97 đơn vị hành chính cấp xã với 823 thôn, làng, tổ dân phố. Dân số hiện có gần 385 ngàn người, trong đó trên 50% là đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa, số còn lại là từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung thuộc nhiều dân tộc di cư đến. Do khác nhau về phong tục, tập quán, phương cách làm ăn lại bị tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường, nên các tranh chấp, mâu thuẫn giữa các cá nhân, hộ gia đình trong cuộc sống cộng đồng luôn phức tạp.
Xác định tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở, nhất là từ sau khi Pháp lệnh về tổ chức và hòa giải ở cơ sở (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh) có hiệu lực thi hành, những năm qua, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kon Tum có Chỉ thị số 07-CT/TU ngày 1-8-2003 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành Tư pháp. Sau một thời gian lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, Ban Thường vụ có Kế hoạch số 20-KH/TU, ngày 10-9-2007 thực hiện Thông báo số 74-TB/TW của Ban Bí thư, tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW (khóa IX) về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân.
Quán triệt nội dung Pháp lệnh và hướng dẫn của Bộ Tư pháp tại Công văn số 451/TP-PBGDPL ngày 7-5-2002, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tư pháp thường xuyên phối hợp UBMTTQ tỉnh, các ngành liên quan và huyện, thị xã, hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi kiểm tra việc thành lập, củng cố, kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ hòa giải tại các xã, phường, thị trấn. Về tổ chức, đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 824 tổ hòa giải/823 thôn, làng, tổ dân phố với 5.696 tổ viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 5 đến 8 tổ viên là những người có uy tín, có kinh nghiệm và tương đối am hiểu pháp luật trong cộng đồng dân cư như: Bí thư chi bộ, già làng, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố, cán bộ MTTQ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh, các tổ hòa giải đã thụ lý 8.867 vụ việc. Trong đó, số vụ việc hòa giải đạt kết quả là 5.840; số vụ việc đang hòa giải là 834; số vụ việc chuyển cơ quan chức năng giải quyết là 2.203. Cùng với nhiệm vụ chính là hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp, còn tích cực lồng ghép với đẩy mạnh công tác trợ giúp pháp lý, phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tạo thói quen sống theo pháp luật của người dân, chủ động phòng ngừa, hạn chế hành vi vi phạm pháp luật, các mâu thuẫn xảy ra, thắt chặt quan hệ đoàn kết gắn bó, tương thân tương ái trong cộng đồng. UBND tỉnh đã chỉ đạo cơ quan tư pháp từ tỉnh đến cơ sở kiện toàn tổ chức và cán bộ, thực hiện quản lý nhà nước về công tác hòa giải ở cơ sở. Hệ thống tư pháp từ tỉnh đến xã đều phân công cán bộ chuyên theo dõi, tham mưu triển khai các nội dung quản lý nhà nước về hòa giải. Từ nguồn kinh phí do ngân sách địa phương phân bổ, chương trình mục tiêu giảm nghèo, trợ giúp pháp lý và các nguồn khác, hằng năm, Sở Tư pháp tổ chức tốt việc biên soạn, phát hành các tài liệu phục vụ việc tìm hiểu pháp luật; tổ chức hội thi Hòa giải viên giỏi cơ sở vào các năm 2000, 2005 và tổ chức tập huấn cho đội ngũ hòa giải viên. Nhờ đó, kiến thức, cách thức tiến hành, kỹ năng của hòa giải viên không ngừng được nâng cao. Để động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hòa giải và công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 47/2006/QĐ-UBND, ngày 29-9-2006 quy định mức chi cho công tác hòa giải (với mức từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng/vụ, việc).
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Tư pháp thường xuyên phối hợp với Uỷ ban MTTQ tỉnh triển khai có kết quả Pháp lệnh, hướng vào củng cố, kiện toàn tổ chức; tập huấn nâng cao nghiệp vụ; lồng ghép hoạt động hòa giải với công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, các phong trào thi đua, nhất là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Nhờ làm tốt công tác phối hợp, hiện nay trong thành phần ban tư pháp cấp xã, thành viên tổ hòa giải đều có đại diện của MTTQ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ. Hằng năm, MTTQ ở cơ sở và các tổ chức thành viên phối hợp với UBND, ban tư pháp rà soát về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải ở địa phương mình, qua đó nắm được số lượng tổ viên, chất lượng hoạt động của các tổ hòa giải, trên cơ sở đó củng cố, kiện toàn về tổ chức như thành lập thêm các tổ hòa giải, bổ sung tổ viên tổ hòa giải. Mặt khác, hoạt động hòa giải đã góp phần triển khai thực hiện tốt các phong trào, các cuộc vận động, xây dựng mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng dân cư tại mỗi địa phương, cơ sở. Sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh, hoạt động hòa giải ngày càng được triển khai sâu rộng, dần trở thành nét đẹp trong đời sống cộng đồng, giải quyết các mâu thuẫn trong nhân dân, góp phần bảo đảm an ninh trật tự, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; hỗ trợ tích cực cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết pháp luật trong nhân dân, thực hiện “Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” đã tạo sự gắn kết, đồng thuận giữa Đảng, chính quyền và nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền. Các tổ hòa giải từng bước được kiện toàn, hoạt động hiệu quả, góp phần vào giảm thiểu những tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân, giảm tải giải quyết các vụ việc của các cơ quan đảng, nhà nước.
Từ thực tế triển khai Pháp lệnh trên địa bàn tỉnh Kon Tum có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:
Một là, sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp, sâu sát của các cấp ủy, chính quyền là nhân tố quyết định. Thực tế cho thấy địa phương nào nhận thức của cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị về công tác hòa giải ở cơ sở được nâng cao thì thường xuyên quan tâm tạo điều kiện cho giới thiệu nhân sự, kinh phí, cơ sở vật chất, để hòa giải thu được kết quả tốt. Hiệu quả công tác hòa giải sẽ tác động trực tiếp đến an ninh - trật tự ở cơ sở, tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Hai là, quá trình thực hiện Pháp lệnh cần xác định rõ trách nhiệm, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của hoạt động hòa giải ở cơ sở, tạo sự thống nhất từ các cấp ủy đảng, chính quyền đến nhân dân; phối hợp chỉ đạo triển khai đồng bộ nhiều giải pháp huy động sức mạnh dư luận trong nhân dân, bảo đảm công tác hòa giải triển khai ngày càng sâu rộng, kết luận hòa giải được thực hiện nghiêm túc trong thực tế. Cơ quan tư pháp, MTTQ và các tổ chức đoàn thể thường xuyên phối hợp theo dõi tình hình, đôn đốc, tạo điều kiện nâng chất lượng của hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Ba là, để công tác hòa giải ở cơ sở đạt kết quả cao, các cơ quan chức năng, trước hết là cơ quan tư pháp cần thường xuyên quan tâm cung cấp các văn bản, tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác hòa giải ở cơ sở, kịp thời kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ các tổ hòa giải ở cơ sở giải quyết những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Pháp lệnh.
Để công tác hòa giải trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới đạt kết quả tốt, cần tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Pháp lệnh và các văn bản liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải ở cơ sở, nâng cao hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về công tác hòa giải. KiÖn toµn tæ chức bảo đảm 100% thôn, làng, tổ dân phố, cụm dân cư có tổ hòa giải, có cơ cấu thành viên hợp lý, chú trọng thu hút đối tượng là già làng, trưởng thôn, những người có uy tín trong cộng đồng tham gia. Tiếp tục nghiên cứu đề xuất các chính sách phù hợp điều kiện cụ thể ở địa phương, khuyến khích lòng nhiệt tình, đề cao trách nhiệm của các tổ viên, tạo điều kiện để các tổ hòa giải hoạt động tốt. Hằng năm có kế hoạch tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho các thành viên tổ hòa giải bằng nhiều hình thức. Chỉ đạo thực hiện các nội dung về quản lý nhà nước đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở; nắm bắt những khó khăn, vướng mắc, thiếu sót trong công tác hòa giải, qua đó có biện pháp chấn chỉnh, tháo gỡ kịp thời.
Phạm Văn Chung
Sở Tư pháp Kon Tum