Lý luận - Thực tiễn
Giải pháp nâng cao chất lượng đảng viên
15:13' 16/5/2008


Xây dựng đội ngũ đảng viên luôn là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng đảng, là nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên của mỗi tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ). Những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có nhiều chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nhiều cấp uỷ đảng đã nhận thức rõ hơn vị trí, vai trò quan trọng của công tác đảng viên và việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các mặt công tác đảng viên. Do vậy, đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở được tăng về số lượng và chất lượng, trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên.

Nhờ làm tốt công tác phát triển đảng viên, từ  năm 2001 đến nay, toàn Đảng kết nạp trên 1 triệu đảng viên, trong đó đảng viên là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, là nữ, là người dân tộc thiểu số... đều tăng, dẫn đến cơ cấu đội ngũ đảng viên hợp lý hơn. Hiện nay, toàn Đảng có trên 3,3 triệu đảng viên, trong đó đảng viên nữ chiếm tỷ lệ 25,6%, là người dân tộc thiểu số 10,4%, là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 16,9%. Số đảng viên có trình độ học vấn tốt nghiệp THPT là 68,8%; có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trung học chuyên nghiệp là 17,9%, cao đẳng 7,8%, đại học 20%, trên đại học 1,4%; có trình độ lý luận chính trị sơ, trung cấp 58,3%, cao cấp và cử nhân là 4,6%.

Đa số đảng viên kiên định lập trường chính trị, tin tưởng và nghiêm chỉnh thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có ý thức tổ chức kỷ luật, có tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được giao; có lối sống lành mạnh, giữ gìn tư cách người đảng viên, thể hiện vai trò tiên phong gương mẫu, quan hệ gắn bó và được nhân dân tin cậy. Phần lớn cấp uỷ viên và cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã được rèn luyện, thử thách và trưởng thành qua thực tiễn công tác; nhiều đảng viên có bước trưởng thành về nhận thức, chính trị tư tưởng, khả năng tổ chức, lãnh đạo quần chúng ở nơi công tác, sinh hoạt.

Tuy vậy, đội ngũ đảng viên còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp yếu kém về phẩm chất đạo đức và năng lực công tác, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, vi phạm nguyên tắc đảng. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng. Một số cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực xảy ra nhưng chậm được ngăn chặn, đẩy lùi, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Một bộ phận đảng viên nói nhiều làm ít hoặc nói nhưng không làm, “trung bình chủ nghĩa”, thờ ơ, thiếu trách nhiệm trước những vụ việc tiêu cực, vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng, không đủ tư cách đảng viên và không còn tác dụng, cần đưa ra khỏi Đảng.

Công tác bồi dưỡng, giáo dục nâng cao chất lượng đảng viên còn lúng túng cả về nội dung và phương pháp, nên hiệu quả còn thấp. Nội dung sinh hoạt ở nhiều chi bộ còn nghèo nàn, trùng lặp sinh hoạt chuyên môn, chính quyền; tự phê bình và phê bình yếu, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn khá phổ biến. Công tác kết nạp đảng viên ở một số nơi còn chạy theo số lượng.

Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên chưa chặt chẽ, cấp uỷ, chi bộ chưa nắm chắc tình hình tư tưởng và phẩm chất đạo đức của đảng viên, chưa chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời đối với đảng viên vi phạm. Nhiều đảng viên hiện đang làm việc trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng vẫn sinh hoạt ở nơi cư trú. Việc giới thiệu đảng viên giữ mối liên hệ với cấp uỷ và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú triển khai rộng rãi nhưng một số nơi thực hiện còn hình thức, chất lượng, hiệu quả hạn chế. Đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm còn nể nang, chạy theo thành tích nên kết quả chưa phản ánh đúng chất lượng đảng viên.

Một số chỉ tiêu chất lượng trong cơ cấu đội ngũ đảng viên còn thấp và phân bố chưa tương xứng với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ hiện nay. Tỷ lệ đảng viên là công nhân lao động trong các thành phần kinh tế mới có 8%; là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 16,9%. Tuổi bình quân của đội ngũ đảng viên còn cao (43,7 tuổi). Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị của đảng viên ở cơ sở, ở một số vùng, nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn thấp. Những nơi có ít hoặc chưa có đảng viên, việc kết nạp đảng viên gặp nhiều khó khăn. Còn hàng nghìn đơn vị cơ sở chưa có đảng viên (gần 4% thôn, bản, ấp; 4% số trường THCS, tiểu học, mẫu giáo, mầm non và trên 42% doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài).

Để xây dựng đội ngũ đảng viên “thật sự tiên phong, gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; kiên định lập trường giai cấp công nhân, phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; năng động, sáng tạo, vững vàng trước mọi khó khăn thử thách” mà Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã nêu, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thời gian tới cần thực hiện đồng bộ những nhiệm vụ, giải pháp sau:

 Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên gắn với việc nâng cao chất lượng TCCSĐ. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; nghị quyết của các cấp uỷ, chi bộ muốn thực hiện có hiệu quả phải thông qua hoạt động, tính tiên phong của đảng viên ở TCCSĐ, nơi giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý và giám sát đảng viên; quy tụ sức mạnh toàn đơn vị hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao. Vì vậy, nâng cao chất lượng đảng viên quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đảng viên tốt thì chi bộ mới tốt. Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí”(1). Do đó, cần tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tổ chức của các TCCSĐ đồng bộ, thống nhất với các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở. Tập trung củng cố các cơ sở yếu kém, xây dựng các TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, thực sự là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh ở cơ sở. 

Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiên phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, các cấp uỷ phải nắm chắc tình hình tư tưởng, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, quan điểm mơ hồ, biểu hiện dao động về tư tưởng, tạo ra sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động, nói và làm theo nghị quyết của Đảng, kiên định, thực hiện đúng Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, truyền đạt chủ trương, nghị quyết của Đảng phù hợp với từng đối tượng đảng viên, theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, hiệu quả; chú ý bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, giải quyết tình huống cụ thể xảy ra ở cơ sở.

Chi bộ là nơi trực tiếp lãnh đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên; giúp đảng viên nắm vững và thực hiện đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt nghị quyết của chi bộ và nghị quyết của cấp uỷ cấp trên. Để đổi mới nội dung sinh hoạt chi bộ cần thực hiện tốt Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 30-3-2007 của Ban Bí thư, Hướng dẫn số 05-HD/BTCTW ngày 25-5-2007 của Ban Tổ chức Trung ương về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ trong các loại hình TCCSĐ. Khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt; nội dung sinh hoạt bảo đảm đúng nguyên tắc, tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu; tập trung bàn và giải quyết những vấn đề cụ thể, thiết thực thuộc chức năng, nhiệm vụ của chi bộ và trách nhiệm, quyền lợi của đảng viên. Cấp uỷ cần chuẩn bị chu đáo nội dung các kỳ sinh hoạt, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho đảng viên; mỗi quý cần tổ chức sinh hoạt chuyên đề một lần để tập trung sự lãnh đạo của chi bộ.

Thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thiết thực, nhất là đợt tự phê bình và phê bình trong thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; nêu gương những đảng viên tiên phong gương mẫu, có thành tích xuất sắc và giáo dục, giúp đỡ những đảng viên mắc sai phạm. Phát hiện kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác; có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, giáo dục, giúp đỡ và xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm. Động viên những đảng viên không còn tác dụng tự nguyện xin ra Đảng.

Làm tốt công tác kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên. Kết nạp đảng viên phải coi trọng chất lượng, tiêu chuẩn, đặc biệt tiêu chuẩn giác ngộ lý tưởng của Đảng, đạo đức lối sống, năng lực hoàn thành nhiệm vụ. Chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn kết nạp đảng viên là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, công nhân, người lao động trong các thành phần kinh tế; ở những địa bàn, lĩnh vực trọng yếu. Đối với những địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường học, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên, cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở cần phân công cấp uỷ viên và các ban, ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn vị để chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên, xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội. Cấp uỷ và tổ chức đảng cần phân công cụ thể cấp uỷ viên, đảng viên làm nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng nhân tố tích cực; giao việc thử thách, giúp đỡ quần chúng ưu tú rèn luyện, phấn đấu có đủ điều kiện kết nạp đảng. Thực hiện chặt chẽ nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng viên, khắc phục tình trạng chạy theo thành tích, số lượng, đồng thời vận dụng, cụ thể hoá tiêu chuẩn kết nạp đảng phù hợp với điều kiện, đặc điểm của mỗi địa phương, cơ sở. ở những nơi tổ chức đảng yếu kém, mất đoàn kết nội bộ, phải tập trung củng cố tổ chức đảng, xây dựng phong trào quần chúng rồi mới tiến hành công tác kết nạp đảng viên.

Gắn việc phân công công tác cho đảng viên với việc đánh giá chất lượng, khen thưởng và kỷ luật đảng viên. Coi trọng việc phân công công tác cho đảng viên nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tiên phong gương mẫu của mỗi đảng viên, góp phần tích cực thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, tình hình đặc điểm của địa phương, chi bộ và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên đúng người, đúng việc, bảo đảm mọi đảng viên trong chi bộ (kể cả đảng viên đang sinh hoạt tạm thời) đều được phân công nhiệm vụ và lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo để đánh giá chất lượng đảng viên, là cơ sở để đào tạo, bố trí, sử dụng, xét khen thưởng, kỷ luật…

Đổi mới nội dung và phương pháp đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên. Đánh giá chất lượng TCCSĐ phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, sự vững mạnh của các tổ chức trong hệ thống chính trị và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời cần có hình thức phù hợp để cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia ý kiến. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ phải kiểm tra, thẩm định chặt chẽ và chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên. Qua đánh giá, có những biện pháp thiết thực, cụ thể để giáo dục, giúp đỡ số đảng viên còn hạn chế trở thành đảng viên tích cực.

Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiệp vụ đảng viên ở cơ sở; đổi mới, cải tiến thủ tục hành chính liên quan đến công tác đảng viên.

Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ công tác đảng đối với bí thư chi bộ, cấp uỷ viên cơ sở và cán bộ chuyên trách công tác đảng. Kết hợp kiểm tra của cấp trên và tự kiểm tra, rà soát của cấp uỷ cơ sở về thực hiện nguyên tắc, thủ tục, quy trình công tác đảng viên. Tiến hành rà soát, đổi mới các quy trình, thủ tục thực hiện công tác kết nạp đảng viên, quản lý đảng viên, khen thưởng, kỷ luật đảng viên... cho phù hợp, hiệu quả. ứng dụng công nghệ thông tin vào nội dung của công tác đảng viên.

Cụ thể hoá và thực hiện các đề án, xây dựng và ban hành các quy định, hướng dẫn liên quan đến công tác đảng viên. Xây dựng và ban hành hướng dẫn về đảng viên làm kinh tế tư nhân, việc kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng; quy định về việc đảng viên thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; hướng dẫn về xử lý đối với đảng viên có liên quan đến yếu tố nước ngoài... để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng.

Triển khai thực hiện các đề án: Xây dựng quy chế quản lý và nâng cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong cơ quan chính quyền; xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên; nghiên cứu bổ sung, sửa đổi hướng dẫn đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên; xây dựng hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận miễn sinh hoạt và công tác đối với những đảng viên về hưu, sức yếu và tự nguyện; về việc đưa ra khỏi Đảng những đảng viên 2 năm liền xếp loại đảng viên vi phạm tư cách; nghiên cứu đổi mới, cải tiến thủ tục hành chính liên quan đến công tác đảng viên...

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, quản lý đảng viên, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Quy định của Bộ Chính trị về xử lý đảng viên vi phạm; về những điều đảng viên không được làm. Cấp uỷ cơ sở phải giám sát đảng viên về các mặt, kể cả đảng viên là cán bộ do cấp uỷ cấp trên quản lý. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội trong việc vận động nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên ở địa bàn dân cư.

Rà soát những đảng viên đang làm việc ổn định trong các doanh nghiệp nhưng danh sách và sinh hoạt ở nơi cư trú, chuyển sinh hoạt đảng về nơi làm việc hoặc tổ chức đảng phù hợp để thực hiện nhiệm vụ đảng viên và góp phần xây dựng tổ chức đảng. Khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc thực hiện Quy định 76 của Bộ Chính trị (khoá VIII). Cấp uỷ, chi bộ nơi đảng viên công tác và cư trú phải tăng cường thực hiện kiểm tra, giám sát đảng viên. Khi có vấn đề cần thiết thì cấp uỷ nơi đảng viên cư trú chủ động phản ánh, góp ý kiến bằng văn bản hoặc trực tiếp trao đổi với chi uỷ nơi đảng viên đó sinh hoạt, công tác để giải quyết kịp thời.

Coi trọng sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp uỷ cấp trên. Cấp uỷ cấp trên, nhất là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện công tác đảng viên ở cơ sở; phân công uỷ viên thường vụ, cấp uỷ viên trực tiếp phụ trách cơ sở. Có kế hoạch, quy định thời gian làm việc với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể chính trị ở cơ sở, nắm chắc tình hình, cùng cơ sở tháo gỡ khó khăn. Cải tiến việc ban hành nghị quyết, văn bản hướng dẫn theo hướng cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu. Khắc phục bệnh quan liêu, xa dân; giảm bớt sự chỉ đạo bằng giấy tờ, khắc phục tình trạng có quá nhiều văn bản dồn xuống cơ sở.

Xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, sự nỗ lực phấn đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng và mỗi đảng viên. Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, tạo sự chuyển biến và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

___

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 12, NXBCTQG, H.2002, tr.80.

Phùng Trần Hương Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 9 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS