Lý luận - Thực tiễn
Lời tuyên bố của người được giao thành lập Chính Phủ mới
14:53' 12/8/2007


Năm 1946 là năm để lại nhiều sự kiện lịch sử nổi bật của đất nước ta. Một trong những sự kiện mãi mãi không phai mờ là lần đầu tiên một nước Việt Nam mới, một thể chế dân chủ cộng hòa được xác lập một cách hợp hiến, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Bản Hiến pháp đầu tiên, Hiến pháp 1946, một lần nữa chứng tỏ rằng: Nước Việt ta có nền văn hiến từ lâu và đến thời đại Hồ Chí Minh thì nền văn hiến ấy thể hiện ở một trình độ cao bằng một văn bản luật cao nhất - Hiến pháp. Hiến pháp 1946 là nền tảng của một Nhà nước pháp quyền, kế thừa truyền thống văn hiến ngàn năm của dân tộc và tinh hoa văn hóa của loài người.

Theo Hiến pháp 1946, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của toàn dân đã bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước, đồng thời là người đứng đầu Chính phủ. Quốc hội đã ủy thác cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ.

Quốc hội, quốc dân đồng bào toàn quốc, quốc tế dõi theo, chờ đợi quan điểm, tư tưởng, bản lĩnh cách mạng, tinh thần ái quốc của Hồ Chí Minh; thái độ, hành động và quyết định của Người về một Chính phủ mới do Người thành lập.

1. Tuyên bố về bản thân mình:

Khi nhận trọng trách thành lập Chính phủ, Hồ Chí Minh khẳng định, công việc đại sự quốc gia bây giờ thì “bất kỳ Quốc hội uỷ cho tôi hay cho ai cũng phải gắng mà làm. Tôi xin nhận”(1). Điều này chứng tỏ, việc nước là việc chung, quan trọng, bất cứ ai cũng phải hiểu rõ như thế để khi được giao trọng trách thì không thể thoái thác, cũng không thể chỉ thấy mặt vinh dự mà trước hết phải là trách nhiệm, là nghĩa vụ và bổn phận.

Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố, một lời tuyên bố chân thành, nghiêm cẩn:

“Giờ tôi xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới rằng: Hồ Chí Minh không phải là kẻ tham quyền cố vị, mong được thăng quan, phát tài”(2).

Một người đứng ra thành lập Chính phủ mới mà như vậy thì mọi người có thể tin tưởng, kỳ vọng vào một Chính phủ với những thành viên mà người ấy lựa chọn ắt phải là một Chính phủ vì dân, một “Chính phủ làm công bộc của dân”.

2. Tuyên bố về tư cách của Chính phủ:

Trước hết, đó là một Chính phủ đoàn kết, đoàn kết trên cơ sở một lý tưởng chung: Vì độc lập, tự do, hạnh phúc của toàn dân như tiêu ngữ được ghi liền sau danh xưng của quốc gia. Cũng cần lưu ý rằng, nước Pháp đưa ra khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái”; Trung Hoa dân quốc đưa ra khẩu hiệu tam dân “Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”; nhưng tên nước của họ chỉ ghi: “Nước cộng hòa Pháp”, “Trung Hoa dân quốc”. Chỉ có Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh là trong tất cả văn bản của quốc gia mới ghi một tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” sau tên nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, nay là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Chính phủ là người chèo lái con thuyền quốc gia, là người phát huy trí tuệ, tài lực, vật lực toàn dân vì sự nghiệp chung. Nếu Chính phủ không đoàn kết trên nền tảng đó mà lại tranh giành quyền lực, địa vị, phe phái ắt sẽ làm suy thoái sức mạnh đất nước, là nguy cơ suy vong của chế độ. Chính vì vậy Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ toàn dân đoàn kết và tập hợp nhân tài không đảng phái”(3).

Thứ hai, Chính phủ phải là một cơ quan hành pháp trong sạch, vững mạnh. Với tầm nhìn của một nhà chính trị, nhà văn hóa lỗi lạc, Hồ Chí Minh đã lường trước căn bệnh trầm kha của các nhà nước ở tất cả các chế độ, nó cũng có thể lây nhiễm vào Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhà nước non trẻ mới ra đời, vừa thoát khỏi chế độ bóc lột; hằn sâu trong tâm trí nhân dân về sự hà lạm, tham nhũng của bọn quan cai trị trong các nhà nước cũ. Do đó, Người đã tuyên bố: “Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết”. Một dân tộc tuy còn trên 90% số dân mù chữ, vừa mới được sống trong chế độ mới, vẫn có thể rất dễ dàng nhận ra rằng lịch sử đã sang trang, một dấu ấn phân biệt rạch ròi bản chất tốt đẹp của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với tất cả các Chính phủ trước đó.

Một Chính phủ đoàn kết, trọng dụng nhân tài với các thành viên là những người liêm khiết biết giữ gìn sự trong sạch của bản thân và giữ cho thanh danh của Chính phủ, tất yếu sẽ là một Chính phủ thu phục được lòng người, đoàn kết được toàn dân, được nhân dân tin yêu, kính trọng. Đó là tư cách của Chính phủ mang đậm dấu ấn nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh mà ngày nay Nhà nước ta đang cố gắng trân trọng giữ gìn, nhân dân ta tin tưởng và mong đợi.

3. Tuyên bố về năng lực và bản lĩnh của Chính phủ:

a) Chính phủ phải sáng suốt. Người tuyên bố: Chính phủ phải chấp hành các nghị quyết của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan hành pháp và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ phải có năng lực làm việc. Nhớ lại, có lần nói chuyện với cán bộ, công chức hành chính, Người đã dặn: Chúng ta phải là những người đày tớ thật trung thành của nhân dân, nghĩa là phải làm những công việc chung của nhân dân và phải làm thật tốt. Đó là một “Chính phủ biết làm việc”(4), một Chính phủ trí tuệ.

b) Chính phủ phải dũng cảm, gan góc, dám chịu trách nhiệm.

Dũng cảm nhưng mưu lược, nhẫn nại nhưng kiên quyết và khéo léo, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lợi ích quốc gia. Chính phủ hoạt động phải có trọng tâm, trọng điểm, kế hoạch trước mắt và lâu dài. Tất cả phải hướng vào mục đích chiến lược quốc gia.

Vì những lẽ trên, Người đã tuyên bố: “Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà”(5).

4. Cơ sở sức mạnh của Chính phủ:

Hồ Chí Minh đã từng nói Đảng và Chính phủ như cây mà gốc rễ là nhân dân. “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

Nhà nước ta không tổ chức theo kiểu tam quyền phân lập, quyền lập pháp (quốc hội) luôn đối chọi với quyền hành pháp (chính phủ). Nhà nước ta thống nhất quyền lực ở trong nhân dân mà Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất. Đó là một cơ chế quyền lực thống nhất có phân công và phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Do đó sức mạnh của Chính phủ phải dựa vào nhân dân, vào Quốc hội. Mọi thành viên của Chính phủ không thể độc đoán chuyên quyền. Người tuyên bố: “Anh em trong Chính phủ mới sẽ dựa vào sức của Quốc hội và quốc dân, dầu nguy hiểm mấy cũng đi vào mục đích mà quốc dân và Quốc hội trao cho”(6).

5. Chính phủ phải tuyên thệ:

ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, tuyên thệ là lời hứa thiêng liêng của người giữ trọng trách trước lá cờ Tổ quốc - lá cờ đã từng thấm máu đỏ của nhiều thế hệ, là hồn thiêng của núi sông, trước những người đã tín nhiệm bỏ phiếu bầu. Tuyên thệ cũng là giờ phút thiêng liêng của người lãnh trọng trách trước quốc gia, để người ấy không bao giờ được quên rằng họ đang “nặng nợ quốc gia”, để luôn gắng gỏi làm tròn phận sự. Nhớ lại khi thành lập Chính phủ kháng chiến, Hồ Chủ tịch đã đọc lời tuyên thệ nhậm chức “Trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, thề xin cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền dân chủ cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong công việc giữ gìn nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi nỗi khó khăn dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ”(7).

Hồ Chí Minh đã tuyên thệ như thế, Chính phủ kháng chiến do Người đã tuyên thệ như thế. Nói như thế và đã làm như thế. Do vậy, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người đứng đầu đã làm tròn nhiệm vụ dân tộc giao phó. Chính phủ do Người thành lập đã làm rạng rỡ nước nhà Việc Nam.

Ngày nay, hình thức tuyên thệ vẫn còn được giữ một cách nghiêm túc trong buổi lễ kết nạp đảng viên. Đó là một thủ tục thiêng liêng, tuyệt nhiên không phải là hình thức.

Quốc hội khóa XII của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa khai mạc kỳ họp thứ nhất, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, trong đó trọng tâm là quyết định bộ máy tổ chức và nhân sự cấp cao của Nhà nước.

Tìm hiểu tư tưởng và việc làm của Chủ tịch Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ soi sáng cho Quốc hội, Chính phủ của nước ta nhiều chỉ dẫn quan trọng và thiết thực.

____

(1,2,3,4) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4. NXBCTQG.2002, tr.427. (5,6) Sđd, tr.427-428. (7) Sđd, tập 4, tr.195.

TRẦN ĐÌNH HUỲNH
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS