Lý luận - Thực tiễn
Khó khăn và giải pháp trong nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên
21:48' 5/11/2007


Với vị trí là nền tảng của Đảng, tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) có vai trò quan trọng, hạt nhân chính trị lãnh đạo và tổ chức nhân dân thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở. Những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, nghị quyết, quy định về xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc triển khai nghị quyết và thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương được cấp uỷ, tổ chức đảng (TCĐ) các cấp quan tâm, vừa chăm lo xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh, vừa coi trọng củng cố, kiện toàn các TCĐ yếu kém gắn với đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh, chú trọng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp uỷ và TCĐ, tạo nhiều chuyển biến tích cực từ cơ sở, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thúc đẩy kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển toàn diện, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đất nước. Theo đó, cùng với sự phát triển mọi mặt của sự nghiệp đổi mới, TCCSĐ có bước phát triển mới: Số lượng TCCSĐ và đảng viên ở một số loại hình cơ sở tăng nhanh, một số loại hình TCCSĐ có sự thay đổi về quy mô, hình thức tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động; một số loại hình TCCSĐ mới ra đời như TCCSĐ trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; trong trường học, bệnh viện ngoài công lập.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, những năm qua công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, cũng như xây dựng, củng cố TCCSĐ vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra và bộc lộ những yếu kém, bất cập. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều TCCSĐ thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh”.

Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ xin đề cập một số những phát sinh, vướng mắc nổi lên trong quá trình xây dựng, củng cố TCCSĐ và bước đầu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Những khó khăn trở ngại mới trong xây dựng và củng cố TCCSĐ: Hiện nay, nhiều thôn, làng, bản… ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây bắc, Tây Nam bộ và nhiều doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nhưng lại chưa có TCĐ, có ít hoặc chưa có đảng viên. Công tác tạo nguồn phát triển đảng viên và xây dựng TCĐ gặp nhiều khó khăn. Thực hiện chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, nhiều doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần mà Nhà nước không giữ cổ phần chi phối, những nơi chủ tịch hội đồng quản trị, giám đốc không phải là đảng viên hoặc số đảng viên tham gia các chức danh lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp ít thì TCĐ hoạt động khó khăn, vai trò TCĐ bị mờ nhạt, nhiều nơi phải sinh hoạt ngoài giờ. Nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh có lực lượng lao động đông nhưng việc xây dựng đội ngũ công nhân đang còn lúng túng, khó khăn. Một bộ phận không nhỏ công nhân, lao động trẻ nhận thức mơ hồ về chính trị, ít tham gia các hoạt động xã hội, chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế, không thiết tha phấn đấu vào Đoàn, vào Đảng, nên việc tạo nguồn phát triển đảng viên, lập TCĐ những nơi này gặp không ít trở ngại.

Hệ thống và mô hình tổ chức bất cập: Nhiều đảng bộ cơ sở ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có đông đảng viên, hoạt động phân tán trên nhiều tỉnh, thành phố, TCĐ và đoàn thể trực thuộc nhiều cấp trên khác nhau, sự lãnh đạo của TCĐ không gắn với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và các đoàn thể quần chúng. Tương tự, một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty lớn ra đời, tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ, công ty con, phạm vi hoạt động rộng, nhưng TCĐ ở công ty mẹ và công ty thành viên trực thuộc nhiều cấp uỷ khác nhau, công tác xây dựng đảng chưa gắn với nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh, TCĐ và các đoàn thể chính trị-xã hội trong doanh nghiệp chưa đồng bộ, còn trực thuộc nhiều cấp, nhiều đầu mối.

Nhiều chi bộ thôn, xóm đông đảng viên quá quy định của Điều lệ Đảng. Tổ chức chi bộ trực thuộc đảng uỷ phường còn khác nhau, nơi lập theo tổ dân phố, nơi theo khu phố, TCĐ chưa gắn với tổ chức hành chính và các đoàn thể chính trị -xã hội trên địa bàn. Nhiều thôn, khu phố đông đảng viên thành lập nhiều chi bộ, không lập đảng bộ bộ phận, trong khi các tổ chức đoàn thể vẫn giữ theo mô hình thôn, khu phố nên không có TCĐ lãnh đạo chính quyền, đoàn thể.

Xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên và bố trí bí thư cấp uỷ cơ sở khó khăn. Trong các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có đông đảng viên, nhưng không có cấp uỷ viên chuyên trách công tác đảng, hầu hết bí thư cấp uỷ cũng không chuyên trách, đều do cấp trưởng hoặc cấp phó của cơ quan, đơn vị đó kiêm nhiệm, chế độ chính sách không rõ ràng, thời gian dành cho công tác đảng ít, việc bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, cách xử lý tình huống trong công tác đảng chưa được quan tâm. Nhiều đảng viên không muốn làm công tác đảng, công tác đoàn thể, có nơi phải đưa cán bộ khó bố trí công việc chuyên môn sang làm công tác đảng, công tác đoàn thể…

Năng lực và trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn còn bất cập. Nhiều cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn tuổi cao, năng lực hạn chế nhưng chưa đủ tuổi và năm công tác để nghỉ chế độ, làm cho việc bố trí cán bộ trẻ thay thế khó khăn do không có biên chế.

Quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã, phường ở vùng đồng bằng từ 19 đến 25 là chưa thật phù hợp với những đơn vị hành chính cấp xã, phường có từ 3-4 vạn dân trở lên. Việc quy định cán bộ chủ chốt ở cơ sở không tham gia quá 2 nhiệm kỳ là chưa phù hợp. Khi cấp trên phải rút cán bộ tăng cường về cơ sở không được bổ sung biên chế nên thiếu người làm việc. Trong khi đó, nhiều cán bộ chủ chốt ở cơ sở trẻ tuổi, đã được đào tạo cơ bản, có trình độ năng lực nhưng không thể bố trí công tác ở huyện đã tạo ra sự ách tắc trong công tác điều chuyển cán bộ. Hiện nay, chức danh văn phòng đảng uỷ không trong diện cán bộ chuyên trách nên mỗi nơi vận dụng một cách khác nhau. Cá biệt có cơ sở phải hợp đồng cả người không phải là đảng viên để quản lý hồ sơ đảng viên và làm công tác văn phòng cấp uỷ.

Chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở tuy đã đổi mới nhưng vẫn có chỗ chưa hợp lý, nhất là giữa cán bộ chuyên trách công tác đảng, chính quyền với công chức chuyên môn. Tuy có cùng trình độ đào tạo, nhưng cán bộ bầu cử chỉ có hai bậc lương, còn công chức chuyên môn được nâng lương thường xuyên theo niên hạn. Số cán bộ không chuyên trách cấp xã đang có nhiều bức xúc về chức danh, mức phụ cấp và chế độ bảo hiểm xã hội. Có tình trạng địa phương quyết định thêm nhiều chức danh cán bộ không chuyên trách, gây khó khăn cho ngân sách.

Đội ngũ đảng viên tăng nhanh về số lượng, nhưng chất lượng chưa tương xứng với đòi hỏi nâng cao sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên trong thời kỳ mới. Có một bộ phận đảng viên “trung bình chủ nghĩa”, không thể hiện rõ vai trò tiền phong gương mẫu. Hằng năm, toàn Đảng kết nạp được từ 16 đến 17 vạn đảng viên, nhưng chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức và trong lực lượng vũ trang; số đảng viên kết nạp ở địa bàn dân cư, trong các thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh rất ít. Cơ sở đảng ở các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng có đông đảng viên nhưng đa số là cán bộ hưu, tuổi cao, sức yếu, không trực tiếp tham gia công tác. Ngược lại, số đảng viên trẻ trực tiếp công tác thì không nhiều. Có tình trạng đảng viên đang làm việc trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng không công khai mình là đảng viên, vẫn sinh hoạt ở nơi cư trú. Trong khi nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân muốn xin vào Đảng nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể của Trung ương.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo hướng dẫn của cấp uỷ cấp trên nhiều lúc, nhiều nơi chưa đáp ứng được những yêu cầu mới nảy sinh ở cơ sở, chưa dành thoả đáng thời gian, công sức, trí tuệ để chỉ đạo việc nghiên cứu bổ sung những vấn đề mới về TCCSĐ và đảng viên. Một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan không còn phù hợp nhưng cũng chậm bổ sung, sửa đổi. Chính sách về kinh phí hoạt động của TCCSĐ trong điều kiện mới như thế nào để bảo đảm vai trò lãnh đạo của TCĐ ở cơ sở cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ…

Để xây dựng TCCSĐ thực sự là nền tảng của Đảng, phát huy vai trò hạt nhân chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của TCĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên, theo chúng tôi cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

1. Tập trung xây dựng, củng cố và phát triển TCĐ ở những nơi chưa có TCĐ, có ít hoặc chưa có đảng viên: Muốn vậy, phải tập trung xây dựng, củng cố, phát triển các đoàn thể quần chúng ở những thôn, bản, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, trường học, bệnh viện ngoài công lập… từ đó tạo nguồn kết nạp đảng viên, xây dựng củng cố TCĐ. Cần quy định thống nhất đối với những đảng viên đang làm việc ổn định trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng vẫn sinh hoạt đảng ở nơi cư trú thì phải chuyển về sinh hoạt nơi làm việc để thực hiện nhiệm vụ đảng viên và góp phần xây dựng  TCĐ và phát triển đảng viên ở nơi làm việc.

2. Tiếp tục kiện toàn, sắp xếp mô hình TCĐ đồng bộ, thống nhất với các tổ chức trong hệ thống chính trị, gắn công tác xây dựng đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của địa phương, đơn vị. Những nơi có đông đảng viên, có nhiều chi bộ nhưng chỉ có một tổ chức chính quyền và tổ chức quần chúng như các thôn, làng, khu phố ở xã, phường thì nên thành lập đảng bộ bộ phận để thống nhất lãnh đạo các chi bộ và tổ chức chính quyền, các đoàn thể trên địa bàn. Tổ chức đảng trong cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có đông đảng viên hoạt động phân tán trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố, TCĐ và các đoàn thể quần chúng trực thuộc nhiều đầu mối khác nhau cần sắp xếp lại cho phù hợp, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa TCĐ với tổ chức chính quyền, các đoàn thể; bảo đảm sự lãnh đạo của TCĐ trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và hoạt động của các  đoàn thể.

3. Xây dựng đội ngũ cấp uỷ viên cơ sở vững mạnh, bố trí những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực, tâm huyết làm công tác đảng, tham gia cấp uỷ; mở rộng chế độ chuyên trách công tác đảng. Coi trọng việc thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp uỷ viên cơ sở, nhất là với bí thư cấp uỷ và cán bộ chuyên trách công tác đảng. Cần tiến hành sơ, tổng kết việc thực hiện thí điểm chủ trương nhất thể hoá hai chức danh chủ chốt ở cơ sở (bí thư đảng uỷ kiêm chủ tịch uỷ ban nhân dân xã, phường; bí thư cấp uỷ kiêm giám đốc trong các doanh nghiệp; bí thư cấp uỷ đồng thời là người đứng đầu cơ quan đơn vị…) đánh giá rõ ưu điểm, nhược điểm của mô hình này để có sự chỉ đạo thống nhất và thực hiện tích cực hơn.

4. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở nhất là với cơ sở xã, phường, thị trấn. Thực hiện nhất quán chủ trương xã, phường, thị trấn là cấp hành chính hoàn chỉnh, xây dựng định biên và cán bộ chuyên trách, công chức chuyên môn được hưởng biên chế nhà nước tạo sự liên thông về cán bộ. Mạnh dạn đưa sinh viên tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học về công tác ở xã, phường. Thực hiện thi tuyển và chuẩn hoá đội ngũ công chức cơ sở. Bố trí 5% biên chế dự phòng để thực hiện luân chuyển cán bộ của tỉnh, huyện về làm cán bộ chủ chốt. Điều động, luân chuyển cán bộ có kiến thức, năng lực và kinh nghiệm về tăng cường cho cơ sở thay thế những cán bộ năng lực yếu, không hoàn thành nhiệm vụ.

5. Bổ sung, hoàn chỉnh một số cơ chế chính sách đối với cán bộ cơ sở phù hợp với tình hình mới. Theo đó, cần  bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Nghị định 114, 121 của Chính phủ. Trước hết, cần điều chỉnh chính sách tiền lương cho hợp lý giữa cán bộ chủ chốt (cán bộ chuyên trách) với công chức chuyên môn, theo nguyên tắc lương của người giữ vai trò lãnh đạo chủ chốt phải cao hơn lương công chức chuyên môn, lương cấp trưởng phải cao hơn lương cấp phó… Sửa đổi quy định năm công tác, tuổi nghỉ hưu, đóng bảo hiểm xã hội của cán bộ, công chức cơ sở. Bổ sung thêm các chức danh văn phòng đảng uỷ, trưởng ban tổ chức, trưởng ban tuyên giáo, chủ nhiệm UBKT đảng uỷ, phó công an xã, phó chỉ huy xã, phường đội là cán bộ chuyên trách hoặc có chế độ chính sách thích hợp để họ được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, được hưởng chế độ hưu trí như những công chức xã, phường. Có chính sách thống nhất để thu hút cán bộ trẻ có trình độ về cơ sở. Bổ sung một số điểm trong Luật lao động, Pháp lệnh cán bộ công chức, khẳng định rõ việc thành lập và vai trò của TCĐ, đoàn thể quần chúng trong các loại hình doanh nghiệp…

6. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp uỷ và đảng bộ, chi bộ. Trước hết, cấp uỷ, đảng bộ, chi bộ phải thực hiện nghiêm, nền nếp chế độ sinh hoạt đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Nội dung sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ cần bám sát chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo và tình hình, đặc điểm của từng loại hình cơ sở, bảo đảm thiết thực, cụ thể, hiệu quả. Đi đôi với đổi mới phương pháp công tác tư tưởng, phải đề cao tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị. Cấp uỷ cấp trên cần tăng cường kiểm tra nội dung, chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ, biểu dương kịp thời những cấp uỷ, chi bộ thực hiện tốt, có biện pháp cụ thể uốn nắn, hướng dẫn những nơi yếu kém, thực hiện chưa nghiêm.

7. Làm tốt công tác quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên nơi công tác và nơi cư trú. Các chi bộ thực hiện tốt việc quản lý, phân công công tác cho đảng viên phù hợp với trình độ, năng lực, sức khoẻ. Đối với đảng viên trên 70 tuổi, sức khoẻ giảm sút và có nguyện vọng thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét cấp giấy chứng nhận hoàn thành nhiệm vụ và cho miễn sinh hoạt, miễn công tác. Cần thông qua việc thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ được giao để đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm đúng thực chất. Coi trọng và nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên.

8. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giúp đỡ của cấp uỷ cấp trên cũng như đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm điều kiện làm việc cho cơ sở.

Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ phải tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện ở cơ sở; phân công cấp uỷ viên, thường vụ cấp uỷ trực tiếp phụ trách cơ sở, bám sát cơ sở nhằm kịp thời nắm bắt tình hình và cùng cấp uỷ, chính quyền cơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, giải quyết dứt điểm những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở. Quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí cho các TCĐ doanh nghiệp ngoài quốc doanh cũng như đầu tư xây dựng nhà văn hoá thôn, bản phục vụ cho học tập, sinh hoạt chung, trong đó có chi, đảng bộ. Đầu tư xây dựng, nâng cấp trụ sở làm việc của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở.

Phúc Sơn
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2013
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS