Lý luận - Thực tiễn
Phát triển đảng viên nữ người dân tộc thiểu số
17:49' 9/9/2007


“Quê tôi đa số là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) cư trú, dân trí, điều kiện phát triển kinh tế, xã hội còn khó khăn, nên chị em còn rất vất vả. Tôi mong cấp ủy, chính quyền, hội phụ nữ các cấp có kế hoạch hỗ trợ, giúp đỡ để chị em người DTTS có điều kiện học tập, tham gia các hoạt động xã hội… được đứng trong hàng ngũ của Đảng ngày càng nhiều, góp phần nhỏ bé xây dựng quê hương”.

Đây là tâm sự của nhiều chị em người DTTS. Thời gian qua, các cấp ủy đảng đã quan tâm tới công tác phát triển đảng viên nữ là người DTTS nhưng vẫn còn không ít khó khăn, cần có biện pháp khắc phục.

 Nhìn thẳng vào khó khăn, tìm đúng nguyên nhân:

Hiện nay cả nước có trên 3.000.000 đảng viên thì gần 800.000 đồng chí là người DTTS. Năm 2006, trên 23.000 quần chúng ưu tú là người DTTS được gia nhập hàng ngũ của Đảng. ở mỗi khu vực, mỗi vùng miền, tỷ lệ đảng viên là người DTTS ngày càng tăng. Nếu năm 2004, vùng Đông Bắc bộ kết nạp được 9.150 đồng chí thì năm 2006 là 9.787. Tỷ lệ tương ứng ở vùng Bắc Trung bộ: 3.863 và 5.366; Tây Nguyên: 1.083 và 1.718; Đồng bằng sông Cửu Long: 805 và 1.110; Duyên hải Nam Trung bộ: 555 và 749… Tuy nhiên, qua khảo sát một số đảng bộ huyện, xã, phường, thị trấn ở một số tỉnh có đông đồng bào DTTS sinh sống thì tỷ lệ đảng viên nữ người DTTS còn ít, thậm chí là quá “hiếm”. Đảng bộ xã Huổi Lềnh (Mường Chà, Điện Biên), nhiệm kỳ 2001-2005, trong số 30 đảng viên được kết nạp, không có đồng chí nào là nữ người DTTS. Xã Tả Ngảo (Sìn Hồ, Lai Châu) từ 2005 đến nay kết nạp được 7 đảng viên, nhưng đều không có nữ. Xã Nậm Mòn (Bắc Hà, Lào Cai) toàn đảng bộ có 8 đảng viên nữ DTTS trong 72 đồng chí, 1 năm qua kết nạp được 7 đảng viên chỉ có 2 là nữ DTTS. Tương tự, Đảng bộ xã Nhị Trường (Cầu Ngang, Trà Vinh) năm 2006 trong 10 đảng viên mới kết nạp cũng chỉ có 2 đảng viên nữ người DTTS. ở huyện Ninh Phước (Ninh Thuận), nơi có đông đồng bào dân tộc Chăm sinh sống, nhưng đến tận tháng 5-1994, người nữ dân tộc Chăm đầu tiên mới được kết nạp vào Đảng…

Vậy nguyên nhân từ đâu? Với thái độ thẳng thắn cùng những trăn trở, nhiều bí thư cấp ủy, đảng viên các chi, đảng bộ chỉ rõ:

Trình độ học vấn thấp. Đa phần các chị chưa học hết tiểu học. Do còn tư tưởng trọng nam nên nhiều gia đình chưa tạo điều kiện cho con gái đi học, hoặc chỉ học để biết viết, biết đếm. Các em gái thường kết hôn sớm, lại đông con nên an phận, thiếu ý chí vươn lên. Ngay cả những đồng chí đã là đảng viên, có đồng chí trong ban chấp hành đảng bộ xã, chủ tịch hội phụ nữ cũng chưa học hết lớp 3… Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Huổi Lềnh (Mường Chà, Điện Biên) cho biết: Gánh nặng công việc gia đình đã cản trở phụ nữ tiến bộ. Có chị em được đi học lớp xóa mù chữ nhưng sau vài tháng lên nương lại quên hết chữ, nhiều chị còn tự ti và ngại đi học xa.

Một nguyên nhân quan trọng là, sự quan tâm của một số cấp uỷ chưa tương xứng; chưa thấy hết vai trò, khả năng của phụ nữ nên trong nghị quyết, chương trình hành động của chi, đảng bộ chưa coi trọng phát triển đảng viên nữ, nhất là người DTTS. Có cấp ủy còn cho rằng trẻ, nữ thì “non” về trình độ, năng lực, thời gian phấn đấu, rèn luyện lại ít… nên thường khắt khe khi xét kết nạp. Công tác cán bộ nữ chưa được cấp ủy quan tâm thường xuyên nên nguồn phát triển đảng viên hiếm. Trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn cho chị em người DTTS thiếu những chính sách, biện pháp cụ thể, đồng bộ, chưa khuyến khích, động viên học tập.

Các tổ chức đoàn thể chưa tạo được môi trường phù hợp lôi cuốn hội viên, đoàn viên nữ tham gia rèn luyện, khẳng định mình. Công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ chưa được quan tâm chỉ đạo thường xuyên nên tác dụng đối với chị em còn hạn chế. ở thôn, bản, ấp vùng cao, xa xôi hoạt động của hội phụ nữ rời rạc, ít phong trào, có nơi thành lập câu lạc bộ nữ nhưng chỉ ở trung tâm xã nên chị em ít được tham gia.

Tổ chức đoàn chưa có các chương trình hoạt động, nội dung, hình thức sinh hoạt phù hợp với lớp trẻ nên không thu hút được nhiều đoàn viên. Có nơi việc giao nhiệm vụ, gặp gỡ, động viên, giúp đỡ đoàn viên rèn luyện, phấn đấu chưa được tổ chức đoàn coi trọng nên tỷ lệ nữ đoàn viên ưu tú được giới thiệu cho tổ chức đảng ít.

Cuộc sống khó khăn. Đa số những xã đông đồng bào DTTS sinh sống, nhất là những xã vùng cao của Tây Bắc, Tây Nguyên cuộc sống rất khó khăn. Không ít những bản, làng, ấp trình độ dân trí thấp lại xa trung tâm, tiếp cận thông tin, khoa học kỹ thuật chậm… nên tỷ lệ hộ nghèo ở nhiều xã tới trên 30%. Cuộc sống khó khăn nên các chị không còn “để ý” đến các hoạt động xã hội. Có chị do gia đình đông con, kinh tế quá nghèo phải đi làm thuê xa, không có thời gian và điều kiện tham gia các hoạt động của hội. Cuộc sống nghèo khó cũng là một nguyên nhân hạn chế công tác kết nạp đảng viên nữ là người DTTS.

Sáng tạo và linh hoạt trong các biện pháp:

Chỉ đạo của các cấp ủy sát sao. Các cấp ủy đảng, theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương, đã ban hành nghị quyết, chỉ thị, văn bản hướng dẫn cụ thể phù hợp với địa phương mình. Tỉnh ủy Trà Vinh đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TU về việc phát triển toàn diện vùng đồng bào Khơ-me và Chỉ thị số 04-CT/TU về việc tăng cường công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khơ-me, người Hoa. Tỉnh ủy Lai Châu có Quy định số 03 - quy định cụ thể một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người DTTS sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nghị quyết 08 về tăng cường chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên và phát triển tổ chức đảng ở nơi chưa có chi bộ, giai đoạn 2006-2010… Các tổ chức đảng đã phổ biến các văn bản của cấp ủy tới cán bộ, đảng viên. Các chi bộ xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể. Ban tổ chức, tuyên giáo phối hợp cùng hội phụ nữ các cấp giúp cấp ủy hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện ở cơ sở. Huyện ủy Kon Plông (Kon Tum) xác định một trong những yêu cầu đối với các đơn vị đỡ đầu lấy cán bộ luân chuyển về cơ sở phải có trách nhiệm hướng dẫn cấp ủy xã làm công tác phát triển đảng viên, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng yếu. ở Đảng bộ xã Pờ Ê của huyện này, các chi bộ xây dựng được kế hoạch phát triển đảng viên cho từng quý, từng tháng cụ thể chính là nhờ có sự giúp đỡ, hướng dẫn của cán bộ tăng cường và lãnh đạo đơn vị đỡ đầu. Đảng ủy Na Hối (Bắc Hà, Lào Cai), Nhị Trường (Cầu Ngang, Trà Vinh) từ bí thư đến các ủy viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành nắm chắc tình hình từng thôn, làng, biết điểm mạnh, yếu của cảm tình đảng. ở những nơi này, cứ vào đầu năm, từ giới thiệu của các đoàn thể, chi bộ xem xét, thống nhất danh sách cảm tình đảng gửi lên đảng ủy, đảng viên được phân công giúp đỡ, định kỳ báo cáo kết quả phấn đấu của cảm tình đảng trước chi bộ.

 Quy hoạch, tạo nguồn gắn với nâng cao trình độ học vấn. Để khắc phục điểm yếu trình độ học vấn thấp, chưa đạt chuẩn, cấp ủy tỉnh, huyện chủ trương, các tổ chức đảng chỉ đạo các đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên… tiến hành rà soát lại lực lượng quần chúng có thể đưa vào dự nguồn phát triển, trong đó chú ý nguồn là nữ người DTTS. Hằng năm, các chi, đảng bộ đăng ký kế hoạch tạo nguồn. Trên cơ sở đó, cấp ủy có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn và những hiểu biết về Đảng. Nhiều nơi đã sáng tạo những hình thức đào tạo, mô hình học thích hợp với đặc điểm của nữ như mở lớp tại cơ sở; theo vùng, miền hoặc phân chia chương trình đào tạo thành những khóa ngắn ngày, tạo điều kiện sinh hoạt thuận lợi cho học viên nữ trong thời gian học tập. Bằng cách này, nhiều cấp ủy đã tạo thêm được nguồn phát triển đảng viên nữ là người DTTS. Nếu năm 1994, người phụ nữ dân tộc Chăm đầu tiên ở Ninh Phước (Ninh Thuận) được vào Đảng thì đến nay toàn huyện đã có 27 đảng viên là nữ dân tộc Chăm. Đảng bộ huyện Vĩnh Châu (Trà Vinh) từ 2002 đến nay kết nạp được 311 đảng viên người Khơ-me thì có 57 nữ. Đảng bộ huyện Bắc Hà (Lào Cai) từ đầu năm đến nay đã kết nạp được 111 đảng viên thì có 17 nữ người DTTS. ở Mường Kim (Than Uyên, Lai Châu) từ 2005 đến nay kết nạp được 49 đảng viên thì có 23 người DTTS, trong đó có 12 nữ người DTTS.

Đối với các em nữ trong độ tuổi học sinh thì lãnh đạo từng xã chọn đưa đi học tại các trường dân tộc nội trú của huyện, tỉnh. Tỉnh Đồng Nai còn mở chương trình đào tạo nghề miễn phí tại Trường đào tạo nghề miền Nam cho hơn 700 học sinh nam, nữ là con em đồng bào các DTTS trong tỉnh. Ngoài học chuyên môn, cấp ủy Trường đã bồi dưỡng nhận thức chính trị, hiểu biết về Đảng, tạo điều kiện cho các đoàn viên nữ học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành đảng viên ngay tại trường. Trong 5 học viên được kết nạp vào Đảng thuộc 4 dân tộc Châu Mạ, Châu Ro, Tày, Mường thì có 2 đảng viên nữ.

Phát huy vai trò gương mẫu của đảng viên nữ người DTTS trong thực hiện nhiệm vụ được giao, gương mẫu trong xây dựng đời sống gia đình văn hoá, nòng cốt trong vận động xoá đói giảm nghèo, là tấm gương cho các chị em học tập, vươn lên. Nhiều đảng bộ đã lựa chọn, giao công tác cho các chị hợp lý. Có những chị được bầu vào cấp ủy, thường vụ cấp ủy, giới thiệu để bầu vào các cơ quan dân cử (Quốc hội, HDND), chính quyền, lãnh đạo đoàn thể, mặt trận các cấp. Đảng bộ xã Phước Nam (Ninh Phước, Ninh Thuận) có 6 đảng viên nữ dân tộc Chăm thì 3 chị là cốt cán công tác trong hệ thống chính trị cơ sở, 3 chị trong ngành giáo dục. Đảng viên Nguyễn Thị Dưỡng sau khi về nghỉ hưu, được đảng uỷ phân công và được bầu làm Bí thư chi bộ thôn Văn Lâm. Chị giúp đỡ, tạo điều kiện để nhiều chị em được vào Đảng, xây dựng chi bộ đạt TSVM. Với trách nhiệm của người phụ nữ Mông, hai đảng viên-trưởng thôn của xã Nậm Mòn (Bắc Hà, Lào Cai) làm việc tận tụy, giải quyết công việc có lý, có tình, vận động bà con bỏ hủ tục lạc hậu, làm kinh tế giỏi đưa gia đình thoát nghèo, nên được chị em trong thôn, trong xã yêu quý, tin tưởng học tập và làm theo… Nhiều chị người Mông, Dao, Phù Lá trong thôn đã, đang là nguồn cảm tình đảng.

Nữ giáo viên được kết nạp vào Đảng tại các xã đông đồng bào DTTS ngày càng tăng. Các cấp ủy đã chỉ đạo các chi bộ đưa những đảng viên là giáo viên có khả năng vận động quần chúng, nhiệt tình đến “cắm” ở những thôn, bản chưa có đảng viên. Mỗi đảng viên giáo viên ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn, còn tham gia tuyên truyền để bà con hiểu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; lắng nghe, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của bà con; hỗ trợ các đoàn thể xây dựng phong trào; vận động chị em cho con đến lớp. Định kỳ báo cáo với cấp ủy và chi bộ, đề xuất những biện pháp thực hiện có hiệu quả. Giáo viên-đảng viên “cắm” bản là cách làm hay được đảng bộ các tỉnh miền núi Tây Bắc thực hiện vài năm nay, đã góp phần tạo nguồn phát triển đảng, tăng tỷ lệ đảng viên là người DTTS, đặc biệt là đảng viên nữ.

Giải quyết nhanh gọn các vướng mắc trong thủ tục kết nạp. Thời gian qua nhiều chi bộ không kết nạp được đảng viên nữ người DTTS là do chi bộ chưa nắm vững nguyên tắc, thủ tục xét kết nạp đảng viên. Các cấp ủy đã mở lớp tập huấn nghiệp vụ công tác xây dựng đảng: Cách tổ chức đại hội; sinh hoạt chi bộ; thủ tục và quy trình kết nạp đảng viên như viết lý lịch, làm đơn xin gia nhập Đảng, thẩm định, xác minh hồ sơ của người xin vào Đảng, cử cán bộ đi xác minh trực tiếp, nguồn kinh phí dành cho công tác thẩm định hồ sơ… được tập huấn kỹ. Do đó, khi cơ sở có tình huống phát sinh, vướng mắc về thủ tục được cấp ủy trực tiếp hướng dẫn cách tháo gỡ, giải quyết nhanh gọn, kịp thời.

Tạo phong trào thi đua từ cơ sở. Gắn với thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, chăm lo đời sống đồng bào các dân tộc, các cấp ủy từ tỉnh, huyện đến cơ sở đã lãnh đạo các ngành, đoàn thể như hội cựu chiến binh, phụ nữ, đoàn thanh niên, mặt trận tổ quốc phát động các phong trào thi đua thiết thực, nâng cao nhận thức, tạo điều kiện cho đoàn viên, hội viên nữ dân tộc tham gia. Xã Tả Phìn (Sa Pa, Lào Cai), Nhị Trường (Cầu Ngang, Trà Vinh), Ia Mơr (Chư Prông, Gia Lai), Vĩnh Châu (Vĩnh Châu, Sóc Trăng),… Hội Phụ nữ đã thành lập câu lạc bộ Phụ nữ giúp nhau làm giàu; Không sinh con thứ 3; Gia đình hạnh phúc; Gia đình sản xuất giỏi… Đoàn thanh niên ở nhiều xã đã có nhiều sáng tạo đưa các cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam…”, “Tiếp lửa truyền thống mãi mãi tuổi 20” vào từng thôn, bản, ấp. Các buổi sinh hoạt ảnh hưởng sâu sắc đến lối sống, suy nghĩ của đoàn viên nữ trẻ. ở thôn Phú Bình (Phú Riềng, Phước Long, Bình Phước) đa số là người dân tộc Sê Tiêng chung sống nhưng việc phát triển đoàn viên, giới thiệu đoàn viên nữ ưu tú cho chi bộ rất khó. Đoàn thanh niên xã và chi đoàn thôn đã tổ chức các phong trào như vệ sinh môi trường, ăn, ở hợp vệ sinh, phòng chống các bệnh sốt xuất huyết, sốt rét trong thôn, xóm… nhiều đoàn viên tích cực tham gia, có phương pháp khoa học. Từ đấy tạo nguồn đoàn viên ưu tú giới thiệu với Đảng. Đồng chí bí thư đoàn thôn, một số đoàn viên nữ rèn luyện, trưởng thành đã được kết nạp và là cảm tình Đảng.

Dám nhìn thẳng vào khó khăn, chỉ ra đúng nguyên nhân, cách làm linh hoạt, sáng tạo, phù hợp là kinh nghiệm bước đầu rút ra từ kết quả trong công tác phát triển đảng viên nữ người DTTS của các cấp ủy đảng có đông đồng bào DTTS sinh sống.

THỦY ANH
Bài cùng chuyên mục
Niềm tin và sức mạnh    (11/9/2007)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS