Lý luận - Thực tiễn
Nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn ở Bắc Giang
17:45' 9/9/2007


Bắc Giang là tỉnh miền núi phía bắc có diện tích tự nhiên 3.822,5 km2, 9 huyện và 1 thành phố, 299 xã, phường, thị trấn (206 xã, 7 phường, 16 thị trấn), 24.989 thôn, bản, khu phố; trong đó 6 huyện miền núi, 1 huyện vùng cao với 27 xã đặc biệt khó khăn; Bắc Giang có trên 20 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Nùng, Tày, Sán Dìu, Cao Lan và Hoa trên 180 ngàn người, chiếm 12% dân số toàn tỉnh. Đảng bộ tỉnh có 14 đảng bộ trực thuộc. Tính đến 31-12-2006, toàn Đảng bộ có 811 tổ chức cơ sở đảng, trong đó 319 đảng bộ, 492 chi bộ, 3.416 chi bộ dưới cơ sở. Tổng số 57.895 đảng viên.

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và cấp uỷ, chính quyền các cấp, đội ngũ cán bộ cơ sở nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn nói riêng đã được củng cố, kiện toàn, chất lượng được nâng lên rõ rệt so với ngày đầu tái lập tỉnh.

1. Từ thực tế.

Theo số liệu tổng hợp của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, tính đến 30-6-2006, đội ngũ cán bộ chủ chốt (bí thư đảng uỷ và phó bí thư thường trực hoặc uỷ viên thường trực đảng uỷ, chủ tịch và phó chủ tịch UBND, HĐND) xã, phường, thị trấn của Bắc Giang có 1.303 người, trong đó, nữ 49 người (3,8%). Về độ tuổi: Dưới 35 có 80 người (6,1%), từ 36 đến 45 có 552 người (42,4%); từ 46 đến 50 có 453 người (34,8%); trên 50 tuổi có 218 người (16,7%). Về trình độ: Có 82,3% đã tốt nghiệp THPT, 40,2% đã tốt nghiệp trung cấp về chuyên môn trở lên, 83,5% có trình độ lý luận chính trị trung, cao cấp.

Qua khảo sát cho thấy, đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn của tỉnh đã cơ bản đủ về số lượng. Trình độ học vấn, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, tổ chức, điều hành công việc ở cơ sở đã được nâng lên một bước. Phần đông cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ gìn đạo đức, lối sống, có ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, tiến bộ trong phong cách làm việc, trong giao tiếp, vận động quần chúng, được nhân dân tín nhiệm. Thông qua hoạt động thực tiễn, nhiều cán bộ đã tích luỹ được kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; thể hiện ở chỗ đa số tổ chức cơ sở đảng đã được củng cố, kiện toàn, phát huy tốt hơn vai trò là hạt nhân chính trị đối với hệ thống chính trị cơ sở. Hoạt động của HĐND ở các xã, phường, thị trấn hiệu quả hơn, nhất là trong quản lý, điều hành, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Mặt trận, đoàn thể nhân dân có nhiều cố gắng trong công tác vận động quần chúng và tham gia giải quyết những vấn đề mới phát sinh ở cơ sở… Những kết quả đó góp phần quan trọng vào những thành tựu của tỉnh trong thời gian qua.

Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến bộ nêu trên, đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Đó là cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ, phẩm chất, năng lực lãnh đạo, điều hành của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Độ tuổi bình quân còn cao, phần lớn cán bộ lần đầu tham gia giữ chức vụ chủ chốt có tuổi đời cao hơn so với quy định. Hiện tại số cán bộ có độ tuổi từ 46 trở lên chiếm 51,5%. Nhiều nơi khó khăn, bị động, lúng túng về việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ thay thế. Nhiều cán bộ chưa đạt chuẩn chức danh, còn đến 17,7% số cán bộ chưa học hết THPT, 59,8% chưa qua đào tạo để có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, 9,6% chưa học trung cấp chính trị, 37,6% chưa học qua lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước. Rất ít cán bộ biết sử dụng công nghệ thông tin trong công tác. Một bộ phận thiếu tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân, chưa thật tâm huyết với công việc; ít sáng tạo, còn mắc bệnh hành chính, quan liêu, mất dân chủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành. Một số làm việc thiếu khoa học, thiếu quyết đoán, yếu về khả năng giao tiếp, chủ trì, điều hành hội nghị; lúng túng trong công tác vận động quần chúng. Một số ít bản lĩnh chính trị không vững vàng, có biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, mất đoàn kết, bè phái, cục bộ gia đình, dòng họ, làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Một số đồng chí thường trực cấp uỷ yếu về chỉ đạo triển khai thực hiện nghị quyết. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt nghị quyết chưa đầy đủ, sâu sắc, xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết chung chung, thậm chí sao chép máy móc chương trình của cấp trên, không sát với thực tế địa phương. Còn biểu hiện “lấn sân” hoặc buông lỏng lãnh đạo đối với hoạt động của chính quyền. Lúng túng trong chỉ đạo hoạt động của mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Một số lãnh đạo HĐND cấp xã, nhất là ở các huyện miền núi, vùng cao chưa biết cách phát huy vai trò, nhiệm vụ của HĐND và đại biểu HĐND, chưa duy trì tốt hoạt động của HĐND, tổ chức các kỳ họp chất lượng không cao, chưa thực hiện tốt chức năng quyết định và giám sát theo quy định của pháp luật. Một số cán bộ chủ chốt chính quyền yếu về năng lực quản lý hành chính, điều hành, chỉ đạo quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực hiệu quả thấp. Năng lực chỉ đạo phát triển kinh tế-xã hội hạn chế, lúng túng trong vận dụng chính sách, pháp luật để giải quyết công việc; buông lỏng hoặc sai sót (thậm chí cố tình làm sai) trong quản lý trên nhiều lĩnh vực, nhất là đất đai, ngân sách, thực hiện các chính sách xã hội. Yếu kém trong công tác tư pháp, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo, mâu thuẫn ở cơ sở; nhiều vụ việc phát sinh ở cơ sở nhưng không được phát hiện, giải quyết kịp thời, gây bức xúc trong nhân dân, dẫn đến cấp tỉnh và huyện phải giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo của công dân ở cơ sở.

Kết quả phiếu thăm đò, điều tra thực tế mới đây của Ban Tổ chức Tỉnh uỷ cho thấy, còn 25,7% cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn thiếu gương mẫu về đạo đức, lối sống; 11% có tác phong làm việc tuỳ tiện; 20,2% chưa chủ động trong công việc. Trong một bộ phận không nhỏ cán bộ bị đánh giá từ trung bình đến yếu kém. Số yếu kém về ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết nội bộ 16,2%; về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện công việc 20,2%; về kỹ năng chủ toạ kỳ họp, hội nghị 19%; về kỹ năng soạn thảo nghị quyết 20,4%...

2. Đến giải pháp.

Từ thực tế trên, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Bắc Giang đã đề ra giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn trong tỉnh hiện nay:

1. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt ở cơ sở theo hướng chuẩn hoá, gắn với quy hoạch. Cụ thể là: Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cơ sở từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo. Đối tượng là cán bộ đương chức và dự nguồn các chức danh chủ chốt ở cơ sở; chú trọng đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ vùng sâu, vùng xa. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn chức danh về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, chuyên môn nghiệp vụ. Đặc biệt, tăng cường bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính, pháp luật và các kỹ năng hoạt động, công tác ở cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch thống nhất, bảo đảm cán bộ chủ chốt ở cơ sở phải được bồi dưỡng theo chức danh ít nhất 2 lần trong một nhiệm kỳ. Tăng cường mở các lớp trung cấp chuyên môn cho những đồng chí chưa đạt theo tiêu chuẩn chức danh. Nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Chính trị tỉnh và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện. Chú trọng nâng cao trình độ, kỹ năng sư phạm, tăng tính hấp dẫn các môn học, liên hệ thực tiễn sát với đối tượng học. Xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên. Tăng cường quản lý, bảo đảm nghiêm túc trong giảng dạy và học tập.

2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện các khâu của công tác cán bộ, bảo đảm thực sự dân chủ, công khai, minh bạch.

Thực hiện nhận xét, đánh giá cán bộ theo đúng quy định của Bộ Chính trị và hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương. Kiên quyết khắc phục tư tưởng “‘dĩ hoà vi quý “, nể nang, né tránh. Tiếp tục cụ thể hoá các bước, các khâu trong quy trình đánh giá cán bộ theo hướng mở rộng dân chủ, công khai, có căn cứ, thông tin đa chiều. Quy định bỏ phiếu kín theo quy trình chặt chẽ khi đánh giá các chức danh chủ chốt cơ sở. Tạo điều kiện thuận lợi, an tâm cho cấp dưới khi nhận xét cán bộ chủ chốt.

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) và Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 9-5-2006 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chú trọng phương châm quy hoạch “động và mở”, hằng năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời. Kiên quyết không đưa vào quy hoạch những người không còn đủ tuổi hoặc chưa đạt chuẩn về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị theo quy định. Quan tâm đưa vào quy hoạch các chức danh chủ chốt ở cơ sở những cán bộ nữ, cán bộ tuổi trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh luân chuyển cán bộ đđào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, tăng cường cán bộ, từng bước khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ, địa phương trong bố trí các chức danh chủ chốt ở cơ sở. Đối với các cơ sở nội bộ mất đoàn kết, tình hình phức tạp, cán bộ chủ chốt vi phạm khuyết điểm phải thi hành kỷ luật, nguồn cán bộ thay thế gặp khó khăn thì nhất thiết phải luân chuyển cán bộ lãnh đạo phòng, ban, ngành của huyện, thành phố xuống giữ các cương vị chủ chốt. Nghiên cứu, bố trí một số biên chế ở các huyện để tạo thuận lợi trong việc thực hiện luân chuyển cán bộ.

Thực hiện công khai, dân chủ, đúng quy trình trong việc giới thiệu, điều động, bổ nhiệm và quản lý cán bộ chủ chốt ở cơ sở. Việc giới thiệu cán bộ vào các chức danh bầu cử cấp uỷ, HĐND, UBND phải bảo đảm thực sự công khai, dân chủ, đúng tiêu chuẩn, phát huy trí tuệ tập thể, lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân. Bám sát, thực hiện đúng hướng dẫn của cấp trên về công tác nhân sự. Kiên quyết không giới thiệu, điều động, bổ nhiệm người không đủ tiêu chuẩn hoặc không trong quy hoạch vào các chức danh cán bộ chủ chốt. Cán bộ được giới thiệu ứng cử hoặc đề bạt, bổ nhiệm phải báo cáo chương trình hành động cụ thể trước tập thể cấp uỷ, HĐND cùng cấp. Trên cơ sở rà soát chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn, xem xét từng trường hợp cụ thể, thực hiện việc bố trí, cho nghỉ công tác chờ hưởng chế đđối với một số đồng chí cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn không đạt chuẩn theo quy định, hiệu quả công tác thấp. Không bố trí những cán bộ chủ chốt chưa đạt chuẩn theo quy định vào các chức danh bầu cử cấp uỷ, HĐND, UBND (trừ một số xã đặc biệt khó khăn về nguồn cán bộ). Có kế hoạch, chỉ đạo cụ thể việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ công chức theo đúng các quy định của Trung ương và tỉnh; tăng cường tiếp nhận, bố trí những sinh viên người địa phương đã tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học làm công chức cơ sở, để tạo nguồn cán bộ chủ chốt.

3. Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra của cấp trên đối với cán bộ chủ chốt cơ sở. Đề cao trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền, cơ quan tổ chức cán bộ cấp huyện và các đồng chí cấp uỷ viên được phân công phụ trách cơ sở trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở. Chỉ đạo thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình trong từng khâu của công tác cán bộ cơ sở; trong quản lý cán bộ theo phân cấp. Gắn trách nhiệm cá nhân huyện uỷ viên phụ trách địa bàn với kết quả hoạt động của cán bộ chủ chốt cơ sở. Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp uỷ cấp huyện phải tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện, uốn nắn những thiếu sót. Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu năng lực, vi phạm khuyết điểm, tín nhiệm thấp. Những cán bộ có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, mặc dù chưa có kết luận nhưng uy tín đã giảm sút, phải bố trí làm công việc khác. Xử lý nghiêm người đứng đầu địa phương để xảy ra tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng. Bên cạnh đó phải chăm lo kiện toàn và nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy của các cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ. Lựa chọn những cán bộ có phẩm chất và năng lực vào làm việc ở các cơ quan tổ chức cán bộ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

4. Củng cố bộ máy, kiện toàn đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho cán bộ chủ chốt thực hiện nhiệm vụ. Mặt trận hằng năm tổ chức thực hiện tốt việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do HĐND cơ sở bầu, chú trọng xác định phạm vi, đối tượng lấy ý kiến phù hợp để bảo đảm kết quả phản ánh đúng thực chất. Phối hợp với các đoàn thể nhân dân, tham mưu thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; tích cực tham gia đóng góp ý kiến phê bình và tạo điều kiện để nhân dân tham gia góp ý phê bình cán bộ chủ chốt cơ sở. Tiếp tục thực hiện tốt mọi biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Chấn chỉnh, nâng cao năng lực, trình độ, ý thức, tinh thần trách nhiệm và chất lượng hoạt động của đội ngũ công chức tạo điều kiện cho lãnh đạo chủ chốt thực hiện tốt nhiệm vụ.

5. Đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho các xã, phường, thị trấn. Thực hiện tốt chính sách cán bộ. Thường xuyên tuyên truyền, vận động, tiếp tục thực hiện chế độ cho nghỉ công tác, chờ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với những cán bộ chủ chốt cơ sở chưa đạt chuẩn năng lực, trình độ hạn chế, tuổi đời cao (nam trên 55; nữ trên 50 tuổi) có đủ 10 năm đóng bảo hiểm xã hội, nghỉ công tác, tự đóng bảo hiểm xã hội đến khi đđiều kiện nghỉ hưu theo Thông tư 34/TT-LB ngày 14-5-2004 của liên bộ Nội vụ - Tài chính - LĐTBXH về thực hiện Nghị định 121/2003-NĐ-CP của Chính phủ. Xây dựng chính sách hỗ trợ cho cán bộ các phòng, ban, ngành của huyện, thành phố luân chuyển xuống giữ các cương vị chủ chốt ở các xã, phường, thị trấn. Từng bước tăng cường đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của các xã, phường, thị trấn, nhất là các xã thuộc huyện miền núi, vùng cao. Tăng cường trang thiết bị, các phương tiện làm việc cần thiết; thực hiện tin học hoá hoạt động của cấp uỷ và hệ thống quản lý hành chính phục vụ cho hoạt động của cả hệ thống chính trị cơ sở.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, Bắc Giang sẽ có một đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý và chất lượng được nâng lên, góp phần thực thi tốt các nhiệm vụ mà nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đã đề ra.

THÂN MINH QUẾ
Phó trưởng bản Tổ chức Tỉnh ủy
Bài cùng chuyên mục
Niềm tin và sức mạnh    (11/9/2007)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS