Lý luận - Thực tiễn
Xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở huyện miền núi biên giới Tịnh Biên, An Giang
14:32' 12/8/2007


Tịnh Biên (An Giang) là huyện miền núi, biên giới (có 21 km đường biên giới với Căm-pu-chia); đồng bào dân tộc Khơ-me chiếm 28,41% số dân toàn huyện. Đảng bộ huyện Tịnh Biên hiện có 59 tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ), trong đó có 42 chi bộ cơ sở, 17 đảng bộ cơ sở (14 đảng bộ cơ sở xã, thị trấn) với 2.146 đảng viên, đạt 1,77% số dân toàn huyện, có 137 đảng viên là người Khơ-me.

Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế của huyện phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân 11,08%; thu nhập bình quân đầu người đạt 7,42 triệu đồng/năm. Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục có tiến bộ trên nhiều mặt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hoạt động của chính quyền các cấp, mặt trận, các đoàn thể nhân dân và vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ngày càng được đổi mới.

Tuy nhiên, kinh tế phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, mặt bằng dân trí thấp, nhất là với đồng bào dân tộc Khơ-me, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, tiến độ cải cách hành chính và đổi mới nội dung hoạt động của một số đoàn thể nhân dân chuyển biến chậm.

Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân hàng đầu là năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ chưa ngang tầm nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp đổi mới ở cơ sở. Do vậy, Huyện uỷ Tịnh Biên đã tập trung chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn TCCSĐ.

Về tổ chức, cùng với việc sắp xếp, kiện toàn hệ thống TCCSĐ, các chi bộ trực thuộc hợp lý (tách và thành lập mới 5 chi bộ cơ sở, 61/61 khóm, ấp đều có chi bộ). Huyện uỷ Tịnh Biên đã thành lập đoàn công tác trực tiếp khảo sát và chỉ đạo các cấp uỷ khảo sát từng loại hình TCCSĐ nhằm đánh giá những ưu, khuyết điểm trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các loại hình TCCSĐ theo quy định của Ban Bí thư. Qua đó, Huyện uỷ đã chấn chỉnh, hướng dẫn các TCCSĐ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ phù hợp với từng loại hình.

Trong xây dựng, chỉnh đốn TCCSĐ, các cấp uỷ ở Tịnh Biên đã luôn chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên theo hướng tăng về số, mạnh về chất. Năm 2006 phân tích, đánh giá chất lượng 2.062 đảng viên chiếm gần 96% số đảng viên toàn Đảng bộ, có 1.153 đồng chí là đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm 55,41%), trong đó có 304 đồng chí là đảng viên xuất sắc (14,74%); 561 đồng chí hoàn thành nhiệm vụ (27,2%) và 44 đồng chí vi phạm tư cách đảng viên (2,13%). Các TCCSĐ đã thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước của quy trình phân tích chất lượng đảng viên, nên việc đánh giá chất lượng đảng viên của Đảng bộ ngày càng sát thực hơn.

Trong công tác giáo dục và quản lý đảng viên, Huyện uỷ đã chỉ đạo thực hiện Đề án 21 của Ban Tổ chức Trung ương “về xây dựng và quản lý dữ liệu đảng viên”. Đến nay đã nhập dữ liệu được 2.004 hồ sơ đảng viên. Trừ những đảng viên tuổi cao, sức yếu được miễn công tác và sinh hoạt đảng còn lại phần lớn đảng viên đều được phân công công tác phù hợp với năng lực, sở trường, đã phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên.

Công tác phát triển đảng viên đã được các TCCSĐ quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Nhờ đó, số đảng viên được kết nạp mỗi năm một tăng. Trong đó, năm 2005 toàn Đảng bộ kết nạp được 151 đảng viên; năm 2006 kết nạp 161 đồng chí. Đặc biệt, Huyện uỷ đã tổ chức hội nghị chuyên đề về phát triển đảng viên trong đồng bào Khơ-me, nên đảng viên là người dân tộc thiểu số tăng, hiện nay có 137 đồng chí. Số đảng viên mới có trình độ học vấn cao hơn, tuổi đời trẻ hơn so với trước.

Huyện uỷ coi xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới là nhiệm vụ then chốt trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn TCCSĐ.

Ban Tổ chức Huyện uỷ đã tham mưu với cấp uỷ cụ thể hoá tiêu chuẩn các chức danh cán bộ chủ chốt, công bố công khai để cán bộ phấn đấu. Theo đó, công tác quy hoạch cán bộ cũng được thực hiện theo hướng mở, công khai, dân chủ (mỗi chức danh quy hoạch 2-3 đồng chí, mỗi đồng chí được quy hoạch 2-3 chức danh). Quy hoạch được gắn với kế hoạch đào tạo, bố trí, sử dụng. Tuỳ yêu cầu về từng loại cán bộ, mà các cấp uỷ cử đi đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ (trung học, đại học, sau đại học), lý luận chính trị (sơ cấp, trung cấp, cao cấp). Việc đánh giá cán bộ hằng năm được chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, nên nhìn chung cán bộ được đánh giá sát thực chất. Đồng thời, Huyện uỷ và đảng uỷ, chi uỷ cơ sở kiên quyết xử lý kỷ luật những cán bộ vi phạm. Riêng năm 2006 đã kỷ luật 24 đồng chí, tăng 33% so với năm 2005. Thái độ kiên quyết, dứt khoát, không né tránh, bao che của các cấp uỷ đảng đối với cán bộ vi phạm đã góp phần tăng cường tính tổ chức, kỷ luật, làm cho đội ngũ cán bộ ngày một trong sạch. Huyện uỷ Tịnh Biên có chính sách ưu đãi trong xây dựng đội ngũ cán bộ là người Khơ-me. Con em đồng bào khi tốt nghiệp ra trường đều được bố trí, sử dụng phù hợp, tạo điều kiện hỗ trợ cả vật chất và tinh thần để họ yên tâm công tác.

Đối với những TCCSĐ yếu kém, Huyện uỷ đã tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm. Lãnh đạo huyện phân công những huyện uỷ viên có năng lực, kinh nghiệm, uy tín trực tiếp giúp đỡ, cùng cấp uỷ cơ sở tìm rõ nguyên nhân yếu kém, đề ra những giải pháp cụ thể về tổ chức, cán bộ, phát triển kinh tế, xã hội đưa đảng bộ vươn lên.

Đổi mới phương thức lãnh đạo phù hợp với từng loại hình TCCSĐ đã được Huyện uỷ xem là biện pháp quan trọng để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ.

Huyện uỷ Tịnh Biên đã chỉ đạo các TCCSĐ xây dựng quy chế làm việc, chú trọng đổi mới nội dung sinh hoạt của cấp uỷ và các chi bộ trực thuộc, đổi mới quy trình ra nghị quyết. Thường trực Huyện uỷ, lãnh đạo các ban xây dựng đảng thường xuống cơ sở tham dự sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ, nhất là với chi bộ trực thuộc đảng uỷ để nắm thực tế chất lượng sinh hoạt đảng, kịp thời chấn chỉnh, đổi mới nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, chi bộ. Vì vậy, chất lượng hoạt động của cấp uỷ, chi bộ và nội dung các nghị quyết sát thực tế hơn, tính khả thi cao hơn, đã tạo được chuyển biến tích cực ở các cơ sở. Công tác xây dựng, chỉnh đốn TCCSĐ luôn được các cấp uỷ gắn với củng cố và đổi mới hoạt động của chính quyền và các đoàn thể nhân dân. Vì thế, chất lượng hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở chuyển biến tích cực. Phân tích chất lượng TCCSĐ năm 2006, Đảng bộ huyện Tịnh Biên có 49/59 TCCSĐ đạt trong sạch, vững mạnh (83,05%), trong đó đạt trong sạch, vững mạnh tiêu biểu là 25 (42,37%); số TCCSĐ hoàn thành nhiệm vụ là 9 (14,25%), chỉ còn 1 cơ sở đảng yếu kém.

Tuy nhiên, công tác xây dựng TCCSĐ ở Tịnh Biên còn một số hạn chế.

Huyện uỷ chưa có nghị quyết chuyên đề về xây dựng TCCSĐ nên trong nhận thức cũng như hành động chưa thực sự đồng bộ, có chiều sâu. Năng lực lãnh đạo xây dựng nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết ở một số TCCSĐ còn yếu, đã hạn chế hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

Công tác xây dựng đảng nhất là ở một số chi bộ ban, ngành chưa được quan tâm đúng mức. Một số chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở sinh hoạt còn chưa đều, nội dung sinh hoạt còn nghèo nàn, hình thức sinh hoạt còn đơn điệu.

Công tác phát triển đảng viên trong đồng bào Khơ-me chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, tỷ lệ còn thấp (năm 2006 kết nạp 11 đồng chí, trong khi nghị quyết đề ra là 21) làm hạn chế không nhỏ đến tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc Khơ-me thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Để tiếp tục phát huy những mặt làm được, khắc phục những hạn chế trong xây dựng TCCSĐ ở huyện Tịnh Biên, xin kiến nghị một số giải pháp sau:

Một là, Huyện uỷ cần có nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn TCCSĐ. Trên cơ sở đó, các đảng uỷ, chi uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch phù hợp với từng cơ sở, từng loại hình; xác định những khâu trọng yếu cần tập trung tháo gỡ. Như vậy sẽ khắc phục được tình trạng dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm.

Hai là, quán triệt sâu rộng các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình TCCSĐ đến từng đảng uỷ, chi uỷ và đội ngũ đảng viên để hiểu đúng, nắm vững chức năng, nhiệm vụ của mình, từ đó xác định đúng nhiệm vụ chinh trị. Đồng thời, tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp uỷ viên và bí thư chi bộ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu củaTCCSĐ.

Ba là, huyện uỷ và các ban xây dựng đảng cần chỉ đạo quyết liệt hơn giúp các TCCSĐ làm tốt công tác phát triển đảng viên trong đồng bào Khơ-me nhằm tạo lực lượng đảng viên là người dân tộc Khơ-me đủ khả năng lãnh đạo đồng bào Khơ-me thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng.

Bốn là, quán triệt đến từng cấp uỷ và chi bộ Chỉ thị của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ”. Trên cơ sở đó hướng dẫn các chi bộ đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt, đảm bảo đúng tính chất của sinh hoạt chi bộ.

Năm là, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương, khen thưởng, nhân điển hình TCCSĐ tiêu biểu, tạo thành phong trào thi đua xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh trong toàn Đảng bộ.

HỒ NGỌC TRƯỜNG
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 4 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS