Lý luận - Thực tiễn
Trường Chinh vói tư duy mới về xây dựng Đảng cầm quyền
16:1' 15/2/2007


Trong quá trình đổi mới đất nước, Trường Chinh đặc biệt quan tâm đến đổi mới tư duy về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Theo Trường Chinh việc chỉnh đốn Đảng phải bắt đầu từ tư duy mới về Đảng cầm quyền, về vai trò và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đối với cả hệ thống chính trị nước ta.

Trường Chinh từng nhấn mạnh, Đảng cầm quyền không có nghĩa là Đảng nắm tất cả, làm thay tất cả. Đảng là người lãnh đạo, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Nhà nước là người trực tiếp cầm quyền. Đồng chí rất tâm đắc với luận điểm nổi tiếng, mới mẻ, sâu sắc, sáng tỏ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chế độ ta là chế độ mà mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, công việc đổi mới, kháng chiến, kiến quốc là việc của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra, đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên; Đảng cộng sản là người lãnh đạo, còn sự nghiệp cách mạng có thắng lợi hay không, thắng lợi lớn hay nhỏ là do quần chúng. Đây là luận điểm hết sức cô đọng, súc tích, hàm chứa nhiều ý nghĩa triết lý sâu xa của Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề Đảng cầm quyền, về mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Như vậy, Trường Chinh khẳng định khái niệm Đảng cầm quyền và mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra rất sớm. Đó chính là cơ sở lý luận, phương pháp luận để xây dựng mối quan hệ gắn kết giữa Đảng và Dân, giữa Đảng và Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị nước ta. Trường Chinh lưu ý rằng, đã có lúc chúng ta có những nhận thức không đúng về Đảng cầm quyền làm thay công việc của Nhà nước. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã và đang kiên quyết sửa chữa. Nhưng không phải vì thế dẫn đến một cực đoan khác là buông lỏng và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm chí đòi “Đảng phải trả lại mọi quyền lực cho Nhà nước và nhân dân”(1). Đồng chí chỉ rõ: Thực chất đó là thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, và chia rẽ Đảng với Dân, Đảng với Nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội của hệ thống chính trị(2).

Là nhà chính trị lão luyện, mẫn cảm, Trường Chinh nhận rõ xu hướng phát triển tất yếu của công cuộc cải tổ. Đồng chí đã từng cảnh báo, chỉ cần một chút mơ hồ, lẫn lộn, dao động, buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng sẽ dẫn đến sự rối loạn của xã hội. Bởi vậy, khi chuẩn bị dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI và soạn thảo Cương lĩnh trình Đại hội VII, Trường Chinh luôn nhắc nhở những người soạn thảo cần phải nắm vững nguyên tắc xuất phát này.

Đồng chí cho rằng không có sự đối lập giữa Đảng và nhân dân, giữa Đảng với Nhà nước và cả hệ thống chính trị nước ta. Thiếu sự lãnh đạo của Đảng thì quyền lực của nhân dân không có. Ngược lại, nếu Nhà nước không nằm trong tay nhân dân thì vai trò lãnh đạo của Đảng cũng không có cơ sở và lý do tồn tại. Do vậy, theo tư duy mới của Trường Chinh thì nắm vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước là hai mặt thống nhất với nhau không thể tách rời. Cơ sở của sự thống nhất là thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đều phấn đấu vì lợi ích của nhân dân.

Để làm sáng tỏ nội dung khái niệm Đảng cầm quyền xuyên suốt trong Cương lĩnh chính trị, trong bài phát biểu tại Hội nghị Tiểu ban ngày 25-5-1987 thảo luận về Dự thảo Cương lĩnh lần thứ ba, Trường Chinh đã phân tích một cách đúng đắn: Là người lãnh đạo, Đảng không thể sa vào công việc sự vụ, làm thay công việc của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị, không còn quỹ thời gian cần thiết để suy nghĩ, đầu tư cho công việc lãnh đạo. Đồng chí nhấn mạnh: Là người lãnh đạo, Đảng cần có tầm nhìn bao quát, tổng thể các lĩnh vực, vấn đề phải xử lý, có thể nắm bắt các xu thế vận động của các khả năng, dự báo được triển vọng của tình hình trong một tương lai nhất định. Bằng một sự khái quát cao, Trường Chinh chỉ rõ vai trò lãnh đạo của một Đảng cầm quyền là kích thích được tính năng động, tháo gỡ các ràng buộc, giải phóng các nguồn lực, phát huy các động lực, khơi dậy các tiềm năng, xác định đúng khâu đột phá, đưa ra chủ trương chiến lược, những giải pháp toàn diện để khắc phục nguy cơ, tấn công vào tận gốc rễ các vấn đề nan giải, mâu thuẫn chủ yếu cần khắc phục trong từng thời điểm cũng như trong cả giai đoạn phát triển. Theo Trường Chinh, người cầm lái, không làm việc của người bơi chèo. Nếu những người bơi chèo không làm được những việc của người cầm lái thì người cầm lái càng không bao biện làm thay chức năng của người bơi chèo.

 Tư duy mới về Đảng cầm quyền của Trường Chinh thực chất là Đảng lãnh đạo Nhà nước và cả hệ thống chính trị, nhưng Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Sự lãnh đạo của Đảng thực hiện thông qua cơ chế dân chủ và thông qua hoạt động tích cực, có hiệu quả của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước. Chỉ có vậy mới phát huy được dân chủ, nâng cao trách nhiệm và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đồng thời cho phép Đảng tập trung vào chức năng lãnh đạo của mình. ở đây, hoàn toàn không có sự đối lập giữa giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng với phát huy và tăng cường hiệu lực quản lý xã hội của Nhà nước.

Như vậy, để tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của tình hình mới, Trường Chinh khẳng định: Không có con đường nào khác ngoài con đường Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn trở thành Đảng trí tuệ, Đảng chủ động hoạt động theo quy luật. Một đảng có trí tuệ, theo Trường Chinh là đảng luôn luôn xem xét đường lối do mình đề ra, chiến lược, sách lược và chủ trương, quyết sách do mình quyết định sẽ ảnh hưởng và tác động đến đời sống thực tiễn như thế nào, sẽ gây ra sự phản ứng như thế nào ở những người chấp hành, để từ đó mà phòng ngừa sự chủ quan, nôn nóng hoặc sự chần chừ, do dự, thiếu quyết tâm tiếp tục con đường đổi mới. ở đây, tư duy, trí tuệ của Đảng và sự sáng tạo của quần chúng nhân dân là thống nhất với nhau. Trường Chinh cho rằng, tổng kết, rút ra những kết luận bổ ích, quý báu từ những đánh giá, nhận xét, kiến nghị của các cấp, của nhân dân là cơ sở vững chắc để nâng cao tính căn cứ, tính hiệu lực của những quyết định, những nghị quyết của Đảng trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau.

Trường Chinh lưu ý đến một vấn đề quan trọng của một Đảng có trí tuệ. Đó là Đảng không ngừng đổi mới tư duy lý luận. Theo Đồng chí, công cuộc đổi mới đất nước Việt Nam được triển khai cả chiều rộng và chiều sâu trên quy mô toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng cũng mở rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống hiện thực. Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải luôn luôn tự đổi mới và tự chỉnh đốn để có đủ tầm tư duy, tầm trí tuệ giải quyết thành công những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Sẽ không thể phân tích sự vật một cách khoa học, tìm ra bản chất, động lực xuyên qua vô số hiện tượng của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá.... nếu không tự hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng. Sẽ không xác định được nhiệm vụ cần phải tập trung dứt điểm trong từng lúc, không thể tìm thấy con đường giải quyết đúng đắn và có kết quả các lĩnh vực của đời sống hiện thực. Đó chính là điều kiện cần thiết giúp cho Đảng ta chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ và hành động, trên cơ sở giữ vững, tăng cường vai trò và năng lực lãnh đạo của Đảng.

Tự đổi mới và tự chỉnh đốn Đảng còn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng mà đồng chí Trường Chinh đã nhiều lần nhắc nhở, đó là sự thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng và Dân. Cơ sở phương pháp luận trong cách đặt vấn đề của ông là tình cảm và tín nhiệm của nhân dân đối với Đảng. Theo ông, trước hết xuất phát từ những cảm nhận trực tiếp qua đường lối, chủ trương của Đảng ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của họ, sau nữa là qua lối sống, đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bộ máy của Đảng và Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở, nhất là cán bộ cấp cao. Sự bất bình của Dân với Đảng thoạt đầu dễ nhận thấy là sự phản ứng của người dân về tệ quan liêu, nạn tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng và Nhà nước. Tệ quan liêu sẽ làm rạn nứt và làm rối loạn mối quan hệ giữa Đảng và Dân. Do vậy, cuộc đấu tranh chống quan liêu, như ông chỉ rõ, vẫn là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhằm củng cố và thắt chặt mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Dân. Còn nạn tham nhũng, như ông phân tích là dịch bệnh đang lây lan rộng, là nỗi đau nhức nhối của mọi người, nó làm hoen ố bầu không khí đạo đức của toàn xã hội và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và Dân. Chừng nào quốc nạn này vẫn hoành hành, tác oai, tác quái thì uy tín của Đảng trong Dân tiếp tục giảm sút và càng không thể nói rằng cuộc vận động đổi mới và chỉnh đốn Đảng đạt kết quả.

Trường Chinh nhấn mạnh đến mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là nhằm xây dựng dân chủ trong Đảng. Đây là vấn đề bức xúc mà ông đặc biệt lưu ý trong khi chuẩn bị Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI, cũng như trong quá trình soạn thảo Cương lĩnh trình Đại hội VII. ông đưa ra quan niệm khá độc đáo về vấn đề một Đảng có dân chủ. Một Đảng có dân chủ là một Đảng coi trọng tính công khai, sự cởi mở, sự đoàn kết thống nhất. Đối với các quyết định của Đảng sắp đưa ra thì Đảng phải có quy chế cung cấp thông tin cho cán bộ, đảng viên cả về mặt lý luận, quan điểm cũng như về mặt thực tiễn. Những thông tin đó sẽ giúp cho sự mở rộng hiểu biết, tầm nhìn và sự phát triển năng lực tư duy của họ mà nếu thiếu cơ sở kiến thức họ sẽ trở nên lạc hậu trước thời cuộc và cuối cùng khó có thể đóng góp ý kiến đối với các quyết định của Đảng sắp ban hành. Thông tin một chiều và theo khuynh hướng chỉ thấy cái tốt, cái tích cực, xem nhẹ việc cung cấp những dòng thông tin trái ngược, khác biệt, hoặc che lấp những mặt trái, những tiêu cực đang xảy ra trong cuộc sống, thì sẽ làm cho nhận thức của cán bộ, đảng viên trở nên phiến diện, tư duy đơn giản, né tránh sự thật, không phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu mang ý nghĩa phê phán sáng tạo, do đó không tạo đủ cơ sở cho niềm tin khoa học.

ông đặc biệt nhấn mạnh quyền của đảng viên là phải tham gia thảo luận những công việc lớn của Đảng: Có quyền chất vấn, phê bình, tranh luận, đồng thời chú ý lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác. Không ai có quyền miệt thị và dùng quyền uy bác bỏ thô bạo ý kiến người khác. Sau khi biểu quyết theo đa số, thì đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của tổ chức đảng, không được nói và làm trái với nghị quyết của Đảng, không được phát ngôn bừa bãi và nghiên cứu hoạt động bè phái, gây chia rẽ, tổn hại đến sự đoàn kết thống nhất của Đảng. Càng phát huy dân chủ thì càng phải giữ vững kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng. Còn đối với những ý kiến thiểu số thì có quyền bảo lưu, nhưng có thời hạn xem xét ý kiến bảo lưu đó. Khi cần thiết có thể tổ chức thảo luận hoặc cho thử nghiệm. Qua thử nghiệm, được thực tế chứng minh là đúng thì cấp uỷ của tổ chức đảng cần phải tiếp thu, có ý kiến đánh giá, xác nhận và có sự bổ sung, điều chỉnh cần thiết cho đề án hay nghị quyết.

Trường Chinh đề cao văn hoá nhận sai lầm và sửa chữa sai lầm. Dù là thủ trưởng hay cấp uỷ cũng không được có thái độ phân biệt đối xử hoặc định kiến chính trị đối với những người có ý kiến thiểu số khi biểu quyết. ông yêu cầu nên xem việc đối thoại, tranh luận một cách dân chủ, bình đẳng, tôn trọng nhau, không thô bạo, giản đơn hoá hoặc quan trọng hóa đẩy vấn đề tới những kết luận về quan điểm chính trị.  ông kiên quyết phản đối việc đồng nhất chân lý với quyền lực (qua cương vị, chức trách của người lãnh đạo). Chỉ có luận cứ khoa học được kiểm nghiệm qua thực tiễn mới có sự đánh giá đúng, sự thẩm định chính xác các ý kiến khác nhau.

Cho đến quá trình soạn thảo cương lĩnh, tư duy mới về vấn đề dân chủ trong Đảng của Trường Chinh được phát triển lên một bước mới so với thời kỳ Đại hội VI. ông đặc biệt nhấn mạnh nâng cao chất lượng thảo luận mang tính khoa học, thực tiễn những vấn đề về chủ trương, quyết sách của Đảng trong sinh hoạt đảng. Trường Chinh quan niệm rằng, bất cứ ai cũng có quyền tự do tìm hiểu, nghiên cứu trong phạm vi sáng tạo khoa học. Việc bắt buộc phải thi hành nghiêm túc nghị quyết của Đảng, đó là yêu cầu khách quan của chính trị, của tổ chức chính trị mà bất cứ ai tự nguyện đứng vào tổ chức đó đều phải có bổn phận thi hành. Đó là yêu cầu nghiêm ngặt về nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho sức mạnh tư tưởng và tổ chức của Đảng không bị phá vỡ, không biến Đảng hành động triệu người như một thành một câu lạc bộ cãi vã và bàn suông.

Phát triển luận điểm này một cách sâu sắc hơn, theo Trường Chinh, nghị quyết của Đảng đương nhiên không phải là khuôn vàng thước ngọc, không phải là chân lý vĩnh cửu. Do vậy, nếu thấy nghị quyết có chỗ chưa phù hợp với thực tiễn thì đảng viên có quyền trình bày ý kiến của mình với tổ chức đảng. Điều quan trọng là Đảng phát huy tự do tư tưởng, tập hợp được càng nhiều trí tuệ của Đảng và xã hội vào việc nâng cao chất lượng của các nghị quyết sẽ ban hành.

Cuối cùng, Trường Chinh kết luận: Dân chủ hoá các hoạt động của Đảng vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy Đảng tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Dân chủ trong Đảng là tiềm năng và nguồn dự trữ, là nguồn lực nội sinh làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Trách nhiệm của Đảng là khai thác đầy đủ và tận dụng triệt để nguồn dự trữ đó, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của nguồn lực nội sinh đó. Dân chủ trong Đảng phải gắn liền với kỷ cương, duy trì đạo đức, phát triển nhân cách đảng viên. Có như thế mới tạo ra mảnh đất tốt để phát huy phẩm chất và bản lĩnh của người đảng viên.

_____

(1),(2) Bài phát biểu của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị Bộ Chính trị từ 18-3 đến 21-3-1986.

 

GS. TRẦN NHÂM
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS