Năm 2006 là năm diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của đất nước: Năm diễn ra Đại hội X của Đảng và là năm đầu thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, công tác tổ chức xây dựng đảng ở các tỉnh, thành phố phía Nam tập trung vào tổ chức quán triệt sâu rộng nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội X của Đảng; phân công và sắp xếp, bố trí cấp ủy viên sau đại hội đảng bộ các cấp; xây dựng và ban hành chương trình toàn khóa, quy chế làm việc của cấp ủy; thực hiện công tác quy hoạch cán bộ theo Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị; tiến hành sơ kết, tổng kết thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của Trung ương (Chỉ thị 29 của Ban Bí thư về đổi thẻ đảng viên, Thông tri số 41 của Bộ Chính trị về tặng huy hiệu đảng cho đảng viên nhiều tuổi đảng, Chỉ thị số 44 của Ban Bí thư về kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh, Quy định số 76 của Bộ Chính trị về đảng viên giữ mối liên hệ với cấp ủy, tổ chức đảng và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú…). Nhìn chung, công tác tổ chức xây dựng đảng có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, có thể khái quát bằng mấy “cái được” sau:
“Cái được” thứ nhất: Chuẩn bị tốt nhân sự để giới thiệu bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Do thực hiện tốt quy trình chuẩn bị nhân sự và bầu cử trong đại hội nên đại hội các đảng bộ tỉnh, thành đều đảm bảo thời gian, yêu cầu sớm có thông tin tổng hợp kết quả đại hội, nhất là về nhân sự để Trung ương có ý kiến chỉ đạo bầu các chức danh chủ chốt ở địa phương, chuẩn bị một bước nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Các tỉnh, thành phố đã làm tốt quy trình giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa X bằng bỏ phiếu kín (cả chính thức và dự khuyết) qua hai vòng. Trên cơ sở đó, việc nhận xét các đồng chí ủy viên Trung ương Đảng khóa IX và dự nguồn ủy viên Trung ương Đảng khóa X được thực hiện sớm và bảo đảm quy trình, chất lượng.
“Cái được” thứ hai: Thực hiện sớm việc xây dựng, ban hành chương trình công tác toàn khóa và quy chế làm việc của cấp ủy. Do tích cực triển khai thực hiện nên cuối tháng 3-2006 đã có 18/22 tỉnh, thành phố đã xây dựng và ban hành chương trình công tác toàn khóa, 15 tỉnh đã xây dựng và ban hành quy chế làm việc của cấp ủy. Đến quý III-2006, tất cả 22 tỉnh, thành phố đều đã hoàn thành công việc này. Nhờ vậy, hoạt động của các ban thường vụ và thường trực cấp ủy nhìn chung diễn ra tương đối nhịp nhàng từ tỉnh đến cơ sở, phát huy được trí tuệ tập thể và trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên.
“Cái được” thứ ba: Hoàn thành sớm việc bố trí, sắp xếp và kiện toàn cán bộ sau đại hội. Do thực hiện tốt quy trình nhân sự trước và trong đại hội nên việc sắp xếp, bố trí cán bộ sau đại hội diễn ra thuận lợi và có được sự đổi mới không chỉ đối với các vị trí chủ chốt mà cả người đứng đầu các sở, ban, ngành cấp tỉnh, các huyện, thị xã, góp phần thúc đẩy thực hiện các chương trình, đề án phát triển kinh tế-xã hội. Đến cuối tháng 3-2006, phần lớn các tỉnh, thành phố đã cơ bản hoàn thành việc phân công cấp ủy viên.
Sau đại hội đảng bộ các cấp, đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các tỉnh, thành phố phía Nam có sự biến động. Có 6 tỉnh thay đổi bí thư, 9 tỉnh thay đổi phó bí thư, 3 tỉnh thay đổi chủ tịch HĐND và 12/22 tỉnh thay đổi trưởng ban tổ chức tỉnh ủy. Các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang, Tây Ninh, Kiên Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Ninh Thuận được bầu bổ sung nhân sự chủ chốt, gồm ba phó bí thư-chủ tịch UBND, bảy ủy viên thường vụ - phó chủ tịch UBND và một phó chủ tịch HĐND. Riêng TP. Hồ Chí Minh được Trung ương chỉ định và cho bầu bổ sung một bí thư, một phó bí thư thường trực, một phó bí thư - chủ tịch UBND và hai phó chủ tịch UBND. Toàn khu vực có năm đồng chí được Trung ương điều động về công tác ở các bộ, ban, ngành Trung ương, trong đó có một ủy viên Bộ Chính trị, một ủy viên Trung ương dự khuyết. Nhưng do làm tốt công tác quy hoạch cán bộ và thực hiện nghiêm túc quy trình nhân sự nên đội ngũ cán bộ chủ chốt ở một số tỉnh, thành phố sớm được kiện toàn. Việc này thể hiện rõ nét nhất ở TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và An Giang... Việc kiện toàn bộ máy, nhất là các sở, ngành ở Cần Thơ, Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu… đã chuyển biến tích cực, khắc phục cơ bản tình trạng chậm trễ trong thời gian trước. Tuy vậy, ở một số tỉnh do mới chia tách nên có tình trạng hụt hẫng cán bộ, việc bố trí chức danh chủ chốt thuộc diện Trung ương quản lý có mặt chưa bảo đảm yêu cầu, tiêu chuẩn. Một số địa phương sắp xếp, bố trí nhân sự sau đại hội chưa dựa trên quy hoạch. Việc công khai dân chủ trong công tác cán bộ còn mang tính hình thức...
Cùng với sắp xếp, kiện toàn, bổ sung cán bộ chủ chốt, các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu, Trà Vinh, Bình Thuận và TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết tốt chính sách đối với 12 đồng chí được Bộ Chính trị, Ban Bí thư thông báo nghỉ công tác để nghỉ hưu hoặc nghỉ chữa bệnh từ tháng 6-2006. Việc này đã tạo không khí đoàn kết, phấn khởi trong các thế hệ cán bộ, cùng hướng vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương.
“Cái được” thứ tư: Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ theo Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị. Nhiều tỉnh, thành phố đã cụ thể hóa Nghị quyết 42 thành kế hoạch của ban thường vụ, hướng dẫn của ban tổ chức tỉnh, thành ủy trên cơ sở Hướng dẫn số 47-HD/BTCTW về quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Một số tỉnh như Ninh Thuận, Long An, Bến Tre… đã thực hiện việc xét duyệt danh sách quy hoạch cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, thị và sở, ban, ngành tỉnh. Nhiều cấp ủy trực thuộc đã làm xong quy hoạch cán bộ A1 gửi về ban tổ chức tỉnh, thành ủy để thẩm định và tổng hợp báo cáo ban thường vụ xét duyệt. Cấp cơ sở đã có 2/3 số đơn vị tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch.
Điểm nổi bật trong công tác quy hoạch cán bộ ở các tỉnh, thành phố là đã phát huy dân chủ, công khai, chú trọng tiêu chuẩn, chất lượng nguồn quy hoạch, quan tâm tạo nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Việc thực hiện bảo đảm quy trình theo hướng dẫn của Trung ương.
“Cái được” thứ năm: Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn đã phát huy được vai trò lãnh đạo trong thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nhiều tỉnh, thành ủy đã tiến hành kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn. Một số tỉnh ủy (Ninh Thuận, Lâm Đồng…) còn ban hành nghị quyết về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn và một số nghị quyết về phát triển kinh tế-xã hội. TP. Cần Thơ tổ chức Hội thảo “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng các loại hình xã, phường, thị trấn”, tiếp đó nhiều quận, huyện ủy, đảng ủy cũng tổ chức hội thảo về vấn đề này. Các tỉnh Bến Tre, Long An tiến hành khảo sát cơ sở để có biện pháp củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở. An Giang có đề án nâng cao chất lượng hoạt động đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn. Nhìn chung, các tỉnh, thành phố đều quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Do vậy, nhiều tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn đã nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy vai trò của tổ chức đảng ở cơ sở trong việc lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể cùng hướng vào thực hiện nhiệm vụ chính trị. Các địa phương đều đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, một số tỉnh, thành phố đạt từ 11% đến 17,8%. Một số tỉnh (Ninh Thuận, Sóc Trăng...) có sự bứt phá, tốc độ tăng trưởng gấp đôi so với năm trước.
Để có năm “cái được” như trên, trước hết là sự tích cực, chủ động, thống nhất ý chí và hành động của ban chấp hành đảng bộ các tỉnh, thành phố; sự tham mưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả của ban tổ chức các tỉnh, thành ủy. Đồng thời, có sự theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc sát sao, kịp thời của các ban xây dựng đảng của Trung ương, nhất là Ban Tổ chức Trung ương, trực tiếp là các vụ địa phương phía Nam. Mặt khác là sự thực hiện có hiệu quả nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng từ cơ sở, ở các địa phương về công tác tổ chức xây dựng đảng.
Nhằm tiếp tục tạo sự đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ trong công tác xây dựng đảng, công tác tổ chức-cán bộ trong năm Đinh Hợi - 2007 và những năm tiếp theo, các tỉnh, thành phố phía Nam cần tích cực củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng đảng cấp tỉnh và cấp quận, huyện. Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đảng và các sở, ngành cấp tỉnh. Thực hiện nghiêm túc hướng dẫn của Trung ương về đánh giá tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, bảo đảm sát thực chất, đồng thời tiếp tục khảo sát để có những biện pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ, góp phần sớm hoàn thành và nâng cao chất lượng quy hoạch cán bộ theo Nghị quyết 42 của Bộ Chính trị…
Thực tiễn công tác tổ chức xây dựng đảng ở các tỉnh, thành phố phía Nam cho thấy: Trong năm qua, nhìn chung việc kiểm điểm tự phê bình, phê bình của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo, quản lý đã được thực hiện tốt hơn, đã nêu ra được hạn chế, yếu kém, khắc phục được tình trạng nặng kể thành tích. Nhiều nơi đã có biện pháp khắc phục sửa chữa yếu kém, khuyết điểm. Tuy nhiên, vẫn còn một số nơi có cán bộ, đảng viên liên quan đến tiêu cực, dư luận rất bất bình. Do vậy, bên cạnh việc tập trung cho những nhiệm vụ và giải pháp trên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên, coi trọng công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh để tổ chức đảng thực sự là hạt nhân chính trị lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể, tạo phong trào thi đua sôi nổi, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở cơ sở địa phương.
TRẦN TRUNG TRỰC
Vụ trưởng Vụ Địa phương III, Ban Tổ chức Trung ương