Lý luận - Thực tiễn
Khó trăm lần dân liệu cũng xong
11:16' 18/10/2007


Ngày 18-1-1967, nói chuyện với Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp huyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

“Làm việc gì cũng phải có quần chúng. Không có quần chúng thì không thể làm được...

Dễ mười lần không dân cũng chịu,

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(1).

Lời dạy đã thể hiện nổi bật Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của nhân dân và sự cần thiết phải xây dựng cho cán bộ, đảng viên lối làm việc dựa vào nhân dân.

Học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều lớp cán bộ, đảng viên đã ý thức sâu sắc vai trò, lực lượng của nhân dân, rèn luyện lối làm việc dân chủ, gần gũi nhân dân, dựa vào nhân dân, do đó, nhiều công việc to lớn, khó khăn của cách mạng đã thành công nhờ được nhân dân đồng lòng thực hiện. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên làm việc theo lối quan liêu, coi thường ý kiến nhân dân, thậm chí hống hách, ức hiếp nhân dân, làm tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Để khắc phục bệnh quan liêu, mệnh lệnh ấy, mỗi cán bộ, đảng viên cần đặc biệt chú trọng việc học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về lối làm việc liên hệ mật thiết với nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, những nguyên tắc chính của lối làm việc ấy là:

Tin dân.

Có tin vào khả năng, sức mạnh to lớn của nhân dân, người cán bộ, đảng viên mới chịu khó, trân trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và nhân dân mới nhiệt thành bày tỏ ý kiến.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, kinh nghiệm lịch sử và bản thân, từ rất sớm, Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc sức mạnh vĩ đại và vai trò quyết định của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ, việc làm cách mạng “giải phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào” là “việc to tát”, việc “rất khó”, nhưng nếu đó là “việc chung cả dân chúng”, “nhiều người đồng tâm hiệp lực” thì “chắc làm được”(2). Hồ Chí Minh khẳng định: “Lực lượng của dân rất to”(3); nhân dân “có hàng chục triệu đôi bàn tay”(4); nhân dân “rất hăng hái, rất anh hùng”, “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được”(5). Người nhiều lần căn dặn cán bộ, đảng viên: “Dân chúng đồng lòng, việc gì làm cũng được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(6).

Dân chúng không chỉ đông đảo mà còn rất tài tình, sáng suốt. Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân chúng rất khôn khéo”, “dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(7). Có người thường cho là dân dốt không biết gì. Người cho “đó là một sai lầm nguy hiểm”(8). Người giải thích: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh... Do sự hay so sánh, họ thấy chỗ khác nhau, họ thấy mối mâu thuẫn. Họ so sánh đúng, giải quyết đúng, là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy. Vì sự so sánh kỹ càng đó, mà cách giải quyết của dân chúng bao giờ cũng gọn gàng, hợp lý, công bình”(9).

Từ niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải “gần gũi nhân dân, dựa vào lực lượng của nhân dân”(10). Người khẳng định: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”(11).

Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Với nhận thức và niềm tin sâu sắc vào khả năng, sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý cán bộ, đảng viên phải biết cách lãnh đạo “liên hợp chặt chẽ với quần chúng”(12), “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(13), “phải học dân chúng, hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng… Mỗi một khẩu hiệu, mỗi một công tác, mỗi một chính sách của chúng ta, phải dựa vào ý kiến và kinh nghiệm của dân chúng, phải nghe theo nguyện vọng của dân chúng”(14).

Theo Hồ Chí Minh, có hai cách làm việc với dân:

Làm việc với dân theo cách quan liêu. Cái gì cũng dùng mệnh lệnh, ép dân chúng làm. Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo. Có nhiều cán bộ làm theo cách đó. Họ còn tự đắc rằng: làm như thế, họ vẫn “làm tròn nhiệm vụ”, làm được mau, lại không rầy rà. Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị là thất bại”(15).

Làm theo cách quần chúng, việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng làm(16).

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Làm như thế sẽ gom góp được ý kiến của quần chúng, kinh nghiệm của quần chúng, cho nên ý kiến của người lãnh đạo “đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn”, tránh được “lý luận suông, không hợp với thực tế”(17); vừa “nâng cao trình độ của dân chúng, mà cũng nâng cao kinh nghiệm của mình”(18). Người kết luận: “Như thế hơi phiền một chút, phiền cho những người biếng học hỏi và giải thích. Nhưng việc gì cũng nhất định thành công”(19). Đó là “cách lãnh đạo cực kỳ tốt”. Biết “làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo”(20).

Phải nhiệt thành, chịu khó, khéo khơi cho dân nói.

Muốn nghe dân, học hỏi dân, theo Hồ Chí Minh “ắt phải có nhiệt thành, có quyết tâm cao, phải khiêm tốn, phải chịu khó. Nếu không vậy, thì dân chúng sẽ không tin chúng ta. Biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”(21).

Sự nhiệt thành, chịu khó của người cán bộ, đảng viên thể hiện ở chỗ không ngại phiền phức, “đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”(22), kiên trì “gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống”(23), “hoá nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”(24). Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa”(25).

Sự nhiệt thành, chịu khó của người cán bộ, đảng viên còn thể hiện ở chỗ “để cho dân chúng phê bình cán bộ”, “chúng ta có khuyết điểm thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng”, “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(26). Làm được như thế nhất định nhân dân sẽ tin cán bộ, nhiệt tình, chân thành góp ý cho cán bộ, đảng viên.

Lại “phải khéo khơi”(27) cho dân nói. Trước hết, phải khéo tổ chức dân chúng.

“Bất kỳ nơi nào có quần chúng, thì nhất định có ba hạng người: hạng hăng hái, hạng vừa và hạng kém”. Do đó, theo Hồ Chí Minh: “Bất kỳ việc gì…, người lãnh đạo phải có một số người hăng hái làm trung kiên” để lôi cuốn quần chúng, liên hệ người lãnh đạo với quần chúng(28). Tiếp theo là phải khéo hỏi dân chúng. Có nhiều cách hỏi ý kiến dân chúng: “Nói chuyện với từng người. Nói chuyện với đông người. Khai hội nói chuyện với tầng lớp này, nói chuyện với tầng lớp khác, với mọi tầng lớp”(29). Nghe rồi phải “khéo tập trung ý kiến của quần chúng”(30), “khéo gom góp lại, sắp đặt lại cho có ngăn nắp, thứ tự rồi cùng dân chúng ra sức thi hành”(31). Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu ta chịu khó, chịu suy nghĩ, bất kỳ nói chuyện với ai cũng có ích cho tư tưởng của ta”(32).

Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng.

Cố nhiên, không phải dân chúng nói gì ta cũng cứ nhắm mắt làm theo. Vì dân chúng “trông thấy từ dưới lên. Nên sự trông thấy cũng có hạn”(33). Hơn nữa, “dân chúng không nhất luật như nhau. Trong dân chúng có nhiều tầng lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp lừng chừng, có lớp lạc hậu”(34). Bởi vậy, cũng có ý kiến đúng, có ý kiến sai. Người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng mà tự mình so sánh, tìm ra mối mâu thuẫn trong những ý kiến khác nhau đó. Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai. Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại, để nâng cao dần sự giác ngộ của dân chúng. Hồ Chí Minh căn dặn: “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”(36).

____

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 12, NXBCTQG, H.2002, tr.212. (2) Sđd, tập 2, tr.261, 262, 267. (3) Sđd, tập 5, tr.700. (4) Sđd, tập 6, tr.366. (5) Sđd, tập 5, tr.295. (6) Sđd, tr.293. (7, 8, 18, 27. 31) Sđd, tr.295. (9) Sđd, tr.295-296. (10) Sđd, tập 8, tr.119. (11) Sđd, tập 5, tr.286. (12, 14, 15, 21) Sđd, tr.293. (13,17,20) Sđd, tr.291. (16,19) Sđd, tr.294. (22, 25, 35, 36) Sđd, tr.297. (23) Sđd, tr.290. (24, 30) Sđd, tr.298. (26) Sđd, tr.296-297. (28) Sđd, tr.289. (29, 32, 34) Sđd, tr.296. (33) Sđd, tr.286.
TS. NGUYỄN VĂN GIANG Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 7 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS