Lý luận - Thực tiễn
Giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên ở Tiền Giang
10:52' 18/10/2007


Kinh nghiệm của Tiền Giang: Nâng cao chất lượng TCCSĐ và đảng viên gắn với thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, điều động, luân chuyển những cán bộ chủ chốt công tác nhiều nhiệm kỳ ở một xã.

 

Đảng bộ tỉnh Tiền Giang có hơn 700 tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ), trong đó loại hình xã, phường, thị trấn chiếm 23,93%, cơ quan 43,05%, đơn vị sự nghiệp 12,6%, lực lượng vũ trang 9,24%, các loại hình doanh nghiệp 9,77% và hợp tác xã là 0,28%. Trong những năm qua, các cấp ủy đảng ở Tiền Giang đã tập trung xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh (TSVM), củng cố cơ sở đảng yếu kém và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Các cấp ủy đảng, trước hết là cấp ủy cấp trên trực tiếp đã chỉ đạo, hướng dẫn từng loại hình TCCSĐ thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, đổi mới phương thức lãnh đạo thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc, chế độ sinh hoạt đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình. Đồng thời luôn tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm và trình độ, năng lực của đảng viên, cấp ủy viên; xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đầu mỗi năm, từng chi, đảng bộ đăng ký phấn đấu đạt TSVM với kế hoạch và những chỉ tiêu cụ thể. Cấp ủy cấp trên chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch, xác định đúng nội dung, giải pháp củng cố những chi bộ, đảng bộ yếu kém. Cấp ủy thành lập tổ công tác giúp cơ sở, qua 6 tháng, đánh giá sự chuyển biến và rút kinh nghiệm để bổ sung kế hoạch củng cố. Cấp ủy xác định rõ phương châm: Tự củng cố của từng chi bộ, đảng bộ là quyết định, sự tác động của cấp ủy cấp trên là quan trọng. Các cấp ủy đều phân công và tăng cường trách nhiệm cấp ủy viên phụ trách xây dựng chi, đảng bộ TSVM, giải quyết cơ sở đảng yếu kém. Cuối năm, tổ chức kiểm điểm, sơ kết đánh giá việc nâng cao chất lượng chi, đảng bộ cơ sở. Qua đánh giá chất lượng năm 2006, Đảng bộ tỉnh Tiền Giang có 87,4% cơ sở đảng đạt TSVM (19,53% TSVM tiêu biểu), 11,28% hoàn thành nhiệm vụ, còn 1,3% yếu kém. Có 92,43% chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở đạt TSVM (16,98% TSVM tiêu biểu), 7,33% hoàn thành nhiệm vụ, 0,23% yếu kém.

Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và cấp ủy viên cơ sở được Tỉnh ủy chú trọng. Hiện nay, toàn tỉnh có 3.860 cấp ủy viên cơ sở (nữ 14,5%), số mới bổ sung 31,82%, trong đó cấp ủy viên xã, phường, thị trấn 1.970 (nữ 13,09%), cán bộ tăng cường, luân chuyển về 37 (1,87%). Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện tốt việc quy hoạch gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, điều động, luân chuyển những cán bộ chủ chốt công tác nhiều nhiệm kỳ ở một xã. Làm tốt việc tuyển dụng đầu vào, có chính sách thu hút cán bộ về cơ sở, quan tâm cán bộ nữ, cán bộ trẻ. Kết quả đánh giá chất lượng đảng viên năm 2006, số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 84,39% (đảng viên xuất sắc 12,02%); đảng viên đủ tư cách, hoàn thành nhiệm vụ 14,37% (đảng viên hạn chế 9,71%); đảng viên vi phạm tư cách 1,22%. Cấp ủy chỉ đạo thực hiện tốt công tác tạo nguồn, xây dựng kế hoạch kết nạp đảng viên. Năm 2006, tỉnh đã mở 23 lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng cho 1.819 cảm tình đảng và đã kết nạp được 1.460 đồng chí. Trong đó, nữ chiếm 32,73%, là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 52,67%; có 63,52% số TCCSĐ kết nạp được đảng viên. Đồng thời với phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của cấp ủy viên, các cấp ủy tăng cường giáo dục, bồi dưỡng đảng viên để nâng cao nhận thức, giữ vững lập trường đi đôi với nâng cao trình độ năng lực thực tiễn, giúp đảng viên khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Công tác phân công quản lý đảng viên ở các chi bộ đã đi vào nền nếp, chặt chẽ hơn. Đảng viên trong độ tuổi công tác là 88,44%, trừ số đảng viên tạm miễn công tác và sinh hoạt đảng  do phải đi làm ăn xa (0,82%) và khoảng trên 2% đảng viên chưa phân công nhiệm vụ, còn lại đều đã được giao công tác. Các chi bộ thực hiện tốt việc phân công cấp ủy viên, đảng viên bồi dưỡng, giúp đỡ những đảng viên dự bị, đảng viên có hạn chế, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên hầu hết đảng viên dự bị đều được công nhận đảng viên chính thức, nhiều đảng viên khắc phục được hạn chế, khuyết điểm, không ít đảng viên nghèo đã vươn lên, giảm từ 1,82% năm 2002 xuống 0,81% năm 2006. Việc thực hiện Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị được các cấp ủy quan tâm. Cuối năm 2006, có 13.053 đảng viên đang công tác được giới thiệu về nơi cư trú, đạt 95,32%; có 95,31% số đảng viên này thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ theo quy định của Trung ương.

Để phát huy những kết quả đã đạt được, tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh xây dựng TCCSĐ TSVM, khắc phục cơ sở đảng yếu kém và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tiền Giang đã xây dựng chương trình hành động với những giải pháp cụ thể như sau:

1. Tập trung chỉ đạo xây dựng chi, đảng bộ TSVM, hằng năm phấn đấu có trên 80% số chi, đảng bộ đạt TSVM. Đồng thời chăm lo nâng cao chất lượng đảng viên, hằng năm có trên 98% số đảng viên đủ tư cách. Đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên bảo đảm chất lượng, chú trọng vào những ấp, khóm, những đơn vị chưa có hoặc còn ít đảng viên gắn với thành lập chi bộ; chú ý các chức danh cán bộ chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang ở xã, ấp chưa là đảng viên.

Để đạt được các yêu cầu trên, cấp ủy tăng cường kiểm tra, hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, phương thức lãnh đạo của từng loại hình cơ sở đảng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ gắn với phát huy vai trò nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền cơ sở; tổ chức tốt việc bí thư đảng ủy, chủ tịch HĐND và chủ tịch UBND xã kiểm điểm, lấy phiếu tín nhiệm của đại diện nhân dân. Thành lập đảng bộ bộ phận ở những chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có trên 30 đảng viên. Thực hiện đồng bộ các biện pháp để khắc phục tình trạng yếu kém ở một số chi, đảng bộ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở đi đôi với phát huy trách nhiệm của cấp ủy cấp trên. Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn việc đánh giá chất lượng chi, đảng bộ, bảo đảm đúng thực chất.

2. Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện quy hoạch cán bộ gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy viên. Tăng cường quản lý, đánh giá sát thực chất những mặt mạnh, yếu của cấp ủy viên. Mạnh dạn thay thế những cấp ủy viên không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín lãnh đạo hạn chế. Có kế hoạch thực hiện chuẩn hóa số cấp ủy viên còn trẻ, có triển vọng. Bổ sung chức danh cán bộ không chuyên trách đối với bí thư chi bộ, bí thư đảng ủy bộ phận trực thuộc đảng ủy xã, phường, thị trấn.

3. Đồng thời với nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên hiện có, cấp ủy chỉ đạo phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị làm tốt công tác tạo nguồn kết nạp đảng viên. Thường xuyên chỉ đạo kiểm tra công tác kết nạp đảng viên. Tăng cường công tác tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức chính trị cho đảng viên, tăng thêm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Tăng cường rèn luyện đạo đức, lối sống, thực hiện tốt nhiệm vụ của người đảng viên. Phát huy những kinh nghiệm tốt trong việc phân công cấp ủy viên và những đảng viên có năng lực và kinh nghiệm giúp đỡ đảng viên hạn chế, tạo điều kiện cho đảng viên nghèo vượt khó vươn lên hoàn thành nhiệm vụ. Coi trọng việc quản lý, kiểm tra, giám sát, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, hoàn cảnh của mỗi đảng viên. Thực hiện tốt việc kiểm điểm, đánh giá chất lượng và đăng ký phấn đấu của đảng viên hằng năm. Đồng thời phát hiện những nhân tố mới để động viên khen thưởng kịp thời và xử lý kỷ luật nghiêm minh những đảng viên và tổ chức đảng vi phạm.
PHẠM DŨNG
Ban Tổ chức Tỉnh ủy
Bài cùng chuyên mục
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 8 - 2014
Tra cứu tạp chí in:
Tra cứu tạp chí CD:
VIDEO CLIPS