Lý luận - Thực tiễn
Phát triển đảng viên ở Đảng bộ Khối cơ quan dân chính đảng Kiên Giang
14:52' 19/4/2007


Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 21-1-2000 của Bộ Chính trị (khoá VIII) đã nêu rõ: “Kết nạp đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, có tính quy luật trong công tác xây dựng đảng, nhằm tăng thêm sức chiến đấu và bảo đảm sự kế thừa, phát triển của Đảng”.

Thực hiện Chỉ thị số 51 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 18 của Tỉnh ủy, công tác phát triển đảng viên của Đảng bộ khối cơ quan Dân Chính Đảng (CQDCĐ) tỉnh Kiên Giang đạt được những kết quả đáng kể. Năm 2001, kết nạp được 184 đảng viên, năm 2002 được 187 đảng viên. Nhưng hai năm sau đó việc phát triển đảng viên giảm: Năm 2003 toàn Đảng bộ chỉ kết nạp được 156 đồng chí, năm 2004 được 160.

Ngày 12-10-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 44 “về kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh” nhân kỷ niệm 115 năm Ngày sinh của Người. Chỉ thị 44 nêu rõ: “Cần có kế hoạch tạo nguồn và tổ chức tốt việc giáo dục, bồi dưỡng những người ưu tú, cảm tình đảng, có nhận thức sâu sắc về Đảng, có động cơ đúng đắn và nguyện vọng phấn đấu vào Đảng…”. Thực hiện Chỉ thị số 44 của Ban Bí thư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Kế hoạch số 46, Đảng ủy Khối có Kế hoạch số 37 chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc làm tốt công tác phát triển đảng viên lớp Hồ Chí Minh. Từ đó nhiều cơ sở đảng đã tiến hành xây dựng quy hoạch, tạo nguồn bồi dưỡng phát triển đảng viên khá tốt. Ban Thường vụ Đảng ủy Khối đã chọn Đảng bộ Bệnh viện Đa khoa và Đảng bộ Công ty xuất nhập khẩu Thuỷ sản tỉnh làm điểm chỉ đạo, chú ý kiểm tra, phát hiện những khó khăn, vướng mắc để uốn nắn kịp thời. Do đó, công tác phát triển đảng viên ở các cơ sở đảng trong Đảng bộ có chuyển biến. Nhiều tổ chức cơ sở đảng nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, hằng tháng trong chương trình công tác ở các chi, đảng bộ đã chú ý nhiều hơn đến nội dung lãnh đạo công tác phát triển đảng viên. Từng tổ chức và đảng viên thấy rõ hơn vai trò, trách nhiệm của mình, tích cực tuyên truyền, giáo dục giác ngộ quần chúng có nhận thức đúng đắn để họ phấn đấu, tu dưỡng rèn luyện trở thành đảng viên. Từ khi thực hiện Chỉ thị số 44 của Ban Bí thư đến giữa năm 2006, toàn Đảng bộ đã kết nạp được 388 đảng viên, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ từ 3.222 (cuối năm 2004) lên 3.600 đảng viên vào 19-5-2006. Trong số mới kết nạp, nữ có 127 đồng chí (32,73%) đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh là 177 đồng chí (45,62%), sinh viên 24 đồng chí (6,19%), đồng bào dân tộc thiểu số ba đồng chí (0,77%). Về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ: THCS có 24 đồng chí, THPT 364 đồng chí, 68 đồng chí là công nhân kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, trung học chuyên nghiệp 65 đồng chí, cao đẳng 13 đồng chí và đại học 199 đồng chí.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác phát triển đảng viên trong Đảng bộ bộc lộ những thiếu sót cả về nhận thức và tổ chức thực hiện. Không ít cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức, chưa tạo điều kiện để các tổ chức đoàn thể hoạt động. Nhiều tổ chức đoàn thể chưa chủ động bồi dưỡng quần chúng ưu tú cho Đảng, nơi giới thiệu nhiều thì chất lượng không cao. Thực hiện quy trình xét chọn quần chúng ưu tú cảm tình đảng chưa chặt chẽ, tỷ lệ quần chúng được kết nạp so với tỷ lệ giới thiệu còn thấp. Việc thực hiện nguyên tắc, thủ tục kết nạp đảng viên có nơi còn sai sót. Nhiều cơ sở đảng chưa xây dựng được quy hoạch tạo nguồn bồi dưỡng phát triển đảng viên. Việc thẩm tra xác minh lý lịch của người xin vào Đảng còn nhiều trở ngại về điều kiện, phương thức và kinh phí thực hiện. Sự gắn kết giữa cấp ủy cấp trên và cơ sở để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về lịch sử chính trị người xin gia nhập Đảng chưa tốt.

Để làm tốt công tác phát triển đảng viên, trong thời gian tới, Đảng bộ Khối CQDCĐ tỉnh Kiên Giang phấn đấu làm tốt hơn các giải pháp sau:

Một là: Các cấp ủy thường xuyên quán triệt trong từng cấp ủy viên, đảng viên và quần chúng về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác phát triển đảng viên, xem đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng thường xuyên của tổ chức cơ sở đảng và của từng đảng viên. Tiếp tục tổ chức thực hiện Chỉ thị số 23 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh, nghiên cứu và tuyên truyền, giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, Chỉ thị số 34 về tăng cường công tác phát triển đảng viên trong trường học.

Hai là: Gắn công tác quy hoạch, tạo nguồn, bồi dưỡng phát triển đảng viên với công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ của cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp. Quan tâm hơn nữa đến lực lượng trẻ, trưởng thành từ hoạt động thực tiễn trong thanh niên, trí thức, giáo viên, sinh viên, học sinh và công nhân lao động. Rà soát lý lịch của quần chúng thuộc lĩnh vực mình phụ trách, phân loại, làm quy hoạch tạo nguồn, bồi dưỡng phát triển đảng viên. Khi xem xét, lựa chọn, quy hoạch phát triển đảng viên phải hết sức chú ý về tiêu chuẩn, đặc biệt là tiêu chuẩn chính trị, năng lực thực hiện nhiệm vụ. Khi đủ điều kiện kết nạp phải thực hiện các thủ tục chặt chẽ theo quy trình, quy định, tránh khắt khe, hẹp hòi hoặc mơ hồ mất cảnh giác.

Ba là: Khi quần chúng ưu tú đã được quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phải phân công đảng viên giúp đỡ cụ thể. Đảng viên được phân công giúp đỡ phải gần gũi, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, kịp thời phát hiện những động cơ không đúng để hướng dẫn, uốn nắn; đồng thời phải báo cáo mặt được và chưa được của người do mình phụ trách trước chi bộ. Đối với học sinh, sinh viên, ngay từ đầu khoá học, tổ chức đảng phải bồi dưỡng lý tưởng cho họ, sâu sát, phát hiện, tận tình giúp đỡ, khi xét thấy đủ tiêu chuẩn thì tổ chức đảng kịp thời đưa vào quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng phát triển đảng viên.

Bốn là: Các chi, đảng bộ cơ sở phải thường xuyên củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò các tổ chức quần chúng. Chỉ đạo, tạo điều kiện cho các đoàn thể tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất, công tác, học tập, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc, tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, nhằm không ngừng nâng cao trình độ chính trị, nâng cao hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng của Đảng trong quần chúng, tạo môi trường thuận lợi để họ phấn đấu trở thành đảng viên.

Năm là: Khi quần chúng đủ tiêu chuẩn phải báo cáo với chi bộ xem xét kết nạp đúng lúc, không để chậm trễ, kéo dài. Trường hợp có vấn đề về lịch sử chính trị chưa kịp xác minh làm rõ, cấp ủy phải có trách nhiệm xin ý kiến cấp có thẩm quyền và thông báo lại cho đối tượng biết lý do chậm.

Sáu là: Thực hiện đúng quy trình, quy định, chú ý việc thẩm tra, xác minh lý lịch chính xác từng mốc thời gian, tránh ngại khó hoặc thụ động, cầu toàn, khắc phục khuynh hướng hẹp hòi, định kiến. Đồng thời tránh tư tưởng dễ dãi, tình cảm cá nhân bỏ qua nguyên tắc tiêu chuẩn, làm giảm chất lượng trong phát triển đảng viên. Tuyệt đối không kết nạp những người có lý lịch chính trị không rõ ràng và vi phạm Quy định 75 của Bộ Chính trị.
Bảy là: Cấp ủy các cơ sở đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên phải thường xuyên phối hợp với lãnh đạo cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp định kỳ hằng năm tổ chức sơ kết rút kinh nghiệm về công tác phát triển đảng viên. Từ đó, kịp thời điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, tìm ra giải pháp sát đúng để nâng cao chất lượng quy hoạch, tạo nguồn phát triển đảng viên. Nơi nào đã xây dựng được quy hoạch thì tiến hành xem xét, điều chỉnh, bổ sung; nơi nào chưa làm được phải tiến hành điều tra, khảo sát nguồn quần chúng hiện có, kịp thời xây dựng quy hoạch sát hợp. 
Ths TRẦN HOÀNG ANH
Trưởng ban Tổ chức Đảng uỷ Khố CQDC Đảng tỉnh
Bài cùng chuyên mục
Mùa xuân chắp cánh    (15/2/2007)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 5 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS