Lý luận - Thực tiễn
Giáo dục đảng viên vi phạm - một biện pháp nâng cao chất lượng đảng viên
8:42' 20/9/2006


Được sự giáo dục, giúp đỡ tận tình, kiên trì của chi, đảng bộ xã Mường Mơn (Mường Chà, Điện Biên) năm 2004, một đảng viên là bí thư đoàn xã bị khiển trách đã phấn đấu vươn lên sửa chữa khuyết điểm lại được cán bộ, đảng viên, nhân dân tín nhiệm hiện là Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã; một Phó chủ tịch UBND xã Căn Cơ (Sìn Hồ, Lai Châu), năm 2002 bị kỷ luật cảnh cáo, sau vài năm nỗ lực rèn luyện, phấn đấu hiện là Bí thư Đảng ủy xã. Còn đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Thải Giàng Phố (Bắc Hà, Lào Cai) vi phạm chính sách dân số-sinh nhiều con thì rất ăn năn và giữ lời hứa trước đảng viên, bà con đã phấn đấu và liên tục hoàn thành nhiệm vụ được giao, không tái phạm... Đó là vài ví dụ, khẳng định việc giúp đỡ, giáo dục, bồi dưỡng đảng viên vi phạm là một trong những biện pháp quan trọng góp phần tích cực xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên.

 

Từ năm 1996-2005, toàn Đảng kiểm tra 263.214 đảng viên, trong đó cấp ủy viên các cấp chiếm 12,24%, cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý chiếm 50%... đã có tới 48,96% số đảng viên vi phạm. Riêng năm 2005, kiểm tra 67/75 đảng bộ trực thuộc Trung ương có  20.652 đảng viên bị xử lý kỷ luật, số vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật theo bốn hình thức là 14.707 (khiển trách 6.111, cảnh cáo  5.509, cách chức 798 và khai trừ 2.289); số đảng viên ra khỏi Đảng gồm xóa tên 4.604, xin ra là 1.341. Nội dung vi phạm của đảng viên: Do chấp hành không nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước 5.725; về nguyên tắc sinh hoạt đảng 4.015; trách nhiệm lãnh đạo, quản lý 2.512; về phẩm chất lối sống 2.015 và số đảng viên vi phạm từ hai nội dung trở lên là 377. Số cấp ủy viên vi phạm là 4.718(*)... Điều đáng quan tâm là tính chất vi phạm của đảng viên ngày càng nghiêm trọng, tỷ lệ cấp ủy viên vi phạm nhiều và đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống cũng gia tăng… đã ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng đảng viên, sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Để giúp những đảng viên vi phạm có cơ hội sửa chữa khuyết điểm, phấn đấu vươn lên, qua nghiên cứu, tìm hiểu ở các Đảng bộ Gia Lai, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Hà Tây, Thái Nguyên, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Đảng ủy khối Khoa giáo T.Ư, Khối Kinh tế T.Ư…  chúng tôi thấy cần quan tâm đến những vấn đề sau:

Phải hiểu rõ những nguyên nhân sai phạm.

Muốn giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đảng viên vi phạm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm phải hiểu rõ nguyên nhân dẫn đến sai phạm. ở các đảng bộ nêu trên thường có mấy nguyên nhân chính: Trình độ, năng lực công tác của đảng viên chưa đáp ứng yêu cầu công việc được giao. Đối với đảng viên nông thôn, miền núi thì do trình độ nhận thức, học vấn thấp, có đảng viên còn mù chữ, hạn chế việc tiếp thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên khi nhìn nhận, suy xét sự việc không chính xác, làm theo ý riêng nên dẫn đến sai phạm. Nhiệm kỳ 2001-2005, Đảng bộ tỉnh Gia Lai có 1.126 đảng viên vi phạm, Hà Tây là 1.758, Lào Cai là 678, Đảng bộ huyện Mường Chà (Điện Biên) là 54 và Đảng bộ huyện Sìn Hồ (Lai Châu) có 34 đảng viên vi phạm; trong đó, một bộ phận không nhỏ đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, tỉnh do năng lực yếu, trình độ chuyên môn non kém, không chịu khó học tập nâng cao trình độ, lại thêm thái độ làm việc thiếu trách nhiệm nên dẫn đến sai lầm, khuyết điểm.

Ý thức rèn luyện đạo đức, lối sống, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng, của đảng viên (kể cả số cấp ủy viên) hạn chế, cũng là một trong các nguyên nhân dẫn đến sai phạm. Năm 2005, tính riêng số cấp ủy viên trong số đảng viên vi phạm khuyết điểm ở Đảng bộ Hà Nội là 117/477, Nam Định là 112/478, Thanh Hóa là 263/1.048, Kon Tum là 146/409, TP. Hồ Chí Minh 205/694, Bến Tre 106/424… Những đảng viên này một phần do năng lực lãnh đạo, quản lý kém nhưng nguyên nhân chính là do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, khi đã có chức vụ, quyền hành thì lợi dụng, đặc quyền, đặc lợi, không giữ được mình trước cám dỗ vật chất dẫn đến tham ô, tham nhũng…

Một nguyên nhân khác là do đảng viên không nhận thức đầy đủ nghị quyết của Đảng dẫn đến không chấp hành đúng. Đây là nội dung có tỷ lệ đảng viên vi phạm cao. Năm 2005, số này ở Đảng bộ tỉnh An Giang là 68/398, Đồng Tháp  66/272, Nghệ An là 321/1.136… Điều đó, lý giải vì sao trong sinh hoạt đảng ở nhiều chi, đảng bộ còn biểu hiện lỏng lẻo, không chấp hành đúng quy định của Điều lệ Đảng, không hoàn thành nhiệm vụ của người đảng viên, vi phạm quy định 19 điều đảng viên không được làm.

Việc nhiều tổ chức đảng buông lỏng công tác quản lý đảng viên, không nắm bắt kịp thời những diễn biến từ khi có dấu hiệu vi phạm dẫn đến đảng viên vi phạm rồi mới biết khá phổ biến. Phần lớn những tổ chức đảng hằng năm xếp loại yếu kém thì tỷ lệ đảng viên vi phạm nhiều. Trong những chi bộ này, đảng viên kèn cựa, gây mất đoàn kết nên vai trò lãnh đạo của chi bộ với đảng viên kém hiệu quả. Hoặc có đảng viên vi phạm, nhưng chi bộ lại “đóng cửa tự bảo nhau” nên đã yếu kém, càng yếu kém hơn.

Một nguyên nhân không kém phần quan trọng nữa là một số cấp ủy thiếu chủ động nắm tình hình và xây dựng kế hoạch kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức đảng tính chiến đấu chưa cao, nhất là việc đấu tranh với cấp ủy viên cùng cấp có vi phạm. Có đảng viên là cán bộ thuộc diện tỉnh quản lý có khuyết điểm, vi phạm đã được làm rõ, song chi bộ và các tổ chức đảng có liên quan không biểu quyết thi hành kỷ luật, chỉ đề nghị kiểm điểm, rút kinh nghiệm. Một số ít cấp ủy, tổ chức đảng nhận thức chưa đúng, sợ khuyết điểm, bệnh thành tích còn nặng, sợ mất cán bộ, sợ ảnh hưởng đến “thành tích” thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị nên không muốn làm rõ khuyết điểm. Vì vậy, đã hạn chế việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của đảng viên, không có tác dụng giáo dục, khích lệ những đảng viên khác trong chi bộ.

Hiểu rõ nguyên nhân đảng viên vi phạm, các cấp ủy, tổ chức đảng đã có cơ sở chỉ đạo nội dung và giải pháp giáo dục, giúp đỡ đảng viên sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, phấn đấu vươn lên hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Cần sự chân thành, kiên trì, gắn công tác tư tưởng với giao nhiệm vụ cụ thể.

Kinh nghiệm của những đảng bộ làm tốt vấn đề này cho thấy: Cấp ủy và tổ chức đảng phải nắm chắc khuyết điểm của những đảng viên vi phạm, xây dựng kế hoạch, nội dung cần giúp đỡ cụ thể như giao việc gì, thời gian bao lâu để thử thách và thường xuyên kiểm tra, giúp đỡ, uốn nắn kịp thời. Chi bộ lựa chọn, phân công cấp uỷ viên hoặc đảng viên có uy tín, có kinh nghiệm và có tâm trong sáng để theo dõi, giáo dục, giúp đỡ đảng viên sai phạm. Khi giúp đảng viên sai phạm khắc phục khuyết điểm, cấp ủy và các đảng viên trong chi, đảng bộ cần có thái độ chân thành với tình yêu thương đồng chí. Cấp ủy làm tốt công tác tư tưởng cho đảng viên trong chi bộ cũng như đảng viên vi phạm loại bỏ thành kiến và mặc cảm. Công tác tư tưởng phải gắn với giao nhiệm vụ cụ thể. Cấp ủy phải nắm và hiểu tâm tư của từng đảng viên, động viên họ thẳng thắn đấu tranh với khuyết điểm của mình. Đồng thời, đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh từng người về những khó khăn trong công việc, cuộc sống gia đình để có biện pháp giúp đỡ thiết thực. Khi giao việc cho đảng viên vi phạm cần tìm cách phát huy mặt tích cực, lấy mặt tích cực để khắc phục mặt tiêu cực. Năm 2004, Đảng bộ thị trấn Mường Chà (huyện Mường Chà, Điện Biên) quyết định kỷ luật khiển trách đối với đồng chí đảng viên là chủ tịch HĐND vì vi phạm nguyên tắc quản lý kinh tế. Được chi bộ, đảng bộ thị trấn chân tình giúp đỡ, giao việc thử thách, đảng viên này đã khắc phục sai lầm và trong đợt bầu cử HĐND ba cấp vừa qua, đã trúng cử với số phiếu cao. Tương tự, ở Đảng bộ xã Nậm Mòn (Bắc Hà, Lào Cai), năm 2001 đã đề nghị cấp ủy có thẩm quyền quyết định kỷ luật cách chức một đảng viên đang là thường trực Đảng ủy xã vì đánh nhau với quần chúng. Song, cấp ủy, tổ chức đảng thấy rõ những mặt tốt, tích cực của đảng viên này: Trẻ tuổi, có năng lực, nhiệt tình, trách nhiệm với công việc nhưng vì mất bình tĩnh nhất thời nên dẫn đến khuyết điểm, bản thân đồng chí đã rất nghiêm khắc tự kiểm điểm. Đảng ủy đã cùng chi bộ giáo dục, giúp đỡ đồng chí phấn đấu vươn lên.

Việc giáo dục đảng viên vi phạm cần kiên trì, không nôn nóng đề ra yêu cầu quá cao. Phải tùy từng đảng viên mà có biện pháp giáo dục, giúp đỡ thiết thực. Qua từng nhiệm vụ được giao, cần kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kịp thời biểu dương những kết quả để đảng viên củng cố lòng tin vào chính bản thân mình. Những mặt còn hạn chế thì tiếp tục, giúp đỡ khắc phục. Đồng thời, cấp ủy và tổ chức đảng cũng cần kiên quyết đấu tranh, mạnh dạn đưa ra khỏi Đảng những đảng viên có khuyết điểm sai lầm đã được tổ chức đảng giáo dục nhiều lần vẫn không tiến bộ, không còn tư cách đảng viên để bảo đảm tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng.

Phải cụ thể, thiết thực.

Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đảng viên phải bằng nhiều hình thức, nhiều kênh thông tin khác nhau và phù hợp với từng người.

Đối với đảng viên vi phạm về chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, về nguyên tắc sinh hoạt đảng thì cấp ủy và tổ chức đảng tổ chức học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các văn bản quy định của Trung ương, của các cấp ủy đảng. Qua tập huấn, bồi dưỡng, qua sinh hoạt đảng và các diễn đàn, tạo cơ hội, điều kiện cho đảng viên trao đổi, đối thoại, nói lên những băn khoăn, thắc mắc, những hiểu biết còn hạn chế... Từ đây, các cấp ủy hiểu và chỉ đạo kịp thời cần bồi dưỡng những gì cho đảng viên để nâng cao nhận thức, hiểu sâu hơn về chủ trương, nghị quyết của Đảng, giúp đảng viên có cơ sở phấn đấu vươn lên. Các cấp ủy chủ động tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm để rút kinh nghiệm và có chủ trương, biện pháp chỉ đạo sát hợp để khắc phục.

Những đảng viên vi phạm vì trình độ, năng lực hạn chế thì cấp ủy chỉ đạo các tổ chức đảng, chính quyền chủ động lập kế hoạch bồi dưỡng để nâng cao. Nhất là với đảng viên cấp cơ sở thì coi trọng đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, những hiểu biết về pháp luật. Chi bộ chủ trương, chính quyền tạo điều kiện cho đảng viên đăng ký đi học để nâng cao trình độ chuyên môn theo yêu cầu nhiệm vụ của mỗi người. Nên mua tài liệu, văn kiện, báo, tạp chí của Đảng và khuyến khích đảng viên đọc, nghiên cứu tích lũy kiến thức, tăng thêm sự hiểu biết. Đặc biệt, những đảng viên vi phạm ở nông thôn, miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, công tác giáo dục, bồi dưỡng không chỉ nhằm giải quyết trước mắt, còn phải chú ý đào tạo cho cả lâu dài về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, giúp từng đồng chí hiểu và kiên định lý tưởng cộng sản, vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường của người đảng viên.

Việc giáo dục, giao việc cho những đảng viên vi phạm phấn đấu phải xác định thời gian cụ thể, tùy theo mức độ vi phạm của từng người, có thể một quý, sáu tháng hoặc một năm. Sau đó, cấp ủy cần tổ chức cho đảng viên vi phạm tự kiểm điểm về những việc đã làm được, những việc chưa làm được, phương hướng khắc phục trong thời gian tới, đề xuất ý kiến, nguyện vọng của mình với cấp ủy và chi bộ. Trên cơ sở đó, chi bộ góp ý kiến có lý, có tình, nhằm động viên, khích lệ ý chí phấn đấu vươn lên của đảng viên.

Cùng với nâng cao nhận thức, việc kiểm tra, thanh tra làm rõ nội dung vi phạm, quy rõ trách nhiệm của đảng viên và củng cố tổ chức cơ sở đảng yếu kém, giải quyết các vụ việc phức tạp, nổi cộm, kéo dài nhiều năm là biện pháp tích cực tạo môi trường tốt cho giáo dục những đảng viên vi phạm. Đồng thời, phải phát huy dân chủ trong đấu tranh tự phê bình, phê bình và tinh thần xây dựng Đảng của quần chúng. Cách làm này đã như một động lực giúp cán bộ, đảng viên tự nhận thức sâu hơn về lập trường, quan điểm, giữ gìn phẩm chất, rèn luyện đạo đức, lối sống, chỉnh đốn tác phong trong công tác, sinh hoạt, đã hạn chế và ngăn chặn được nhiều đảng viên vi phạm.

Phải gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.

Giáo dục, giúp đỡ gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, đưa đảng viên vào công việc là biện pháp tích cực để rèn luyện đảng viên. ở chi bộ nông thôn phải lấy nhiệm vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, bảo vệ trị an thôn xóm, xây dựng nông thôn mới; ở cơ quan, đơn vị sản xuất phải lấy hoàn thành nhiệm vụ chính trị, tăng năng suất lao động đạt hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hiệu quả công tác cao làm phương hướng và mục tiêu phấn đấu cụ thể của đảng viên. Kinh nghiệm của nhiều đảng bộ như Đảng bộ xã Căn Cơ (Sìn Hồ, Lai Châu), xã Mường Mơn, trị trấn Mường Chà (huyện Mường Chà, Điện Biên), thị trấn Xuân Mai (Chương Mỹ, Hà Tây), xã Hợp Thanh (Mỹ Đức, Hà Tây), Thải Giàng Phố, Nậm Mòn (Bắc Hà, Lào Cai), thị trấn Thứa (Lương Tài, Bắc Ninh), xã Phú Liêm (Tiên Du, Bắc Ninh)… là luôn gắn việc giáo dục, bồi dưỡng đảng viên có khuyết điểm, hạn chế với việc phân công đảng viên theo các nhiệm vụ mà chi bộ đề ra. Do vậy, trong triển khai nhiệm vụ của chi bộ như tăng diện tích trồng rừng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng, nâng cấp lớp học, lãnh đạo các gia đình đưa trẻ tới trường, giữ gìn an ninh thôn, bản… đều tạo được chuyển biến tốt. Đảng viên vi phạm đã tích cực phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao, có tiến bộ rõ. Như đảng viên Lý Thanh Bình ở Đảng bộ xã Căn Cơ bị kỷ luật cảnh cáo do không giáo dục được vợ con, để vợ con có thái độ không đúng với bà con thôn, bản. Được sự giúp đỡ tận tình của cấp ủy và chi bộ, đồng chí và vợ con đã tiến bộ lấy lại được tín nhiệm, hiện là Bí thư Đảng ủy xã...

Cùng với chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị về phát triển kinh tế, xã hội, các đảng bộ quan tâm đến nhiệm vụ xây dựng Đảng, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Nhiều tổ chức đảng đã đưa vào nghị quyết việc chủ động ngăn ngừa đảng viên vi phạm và tái vi phạm. Nhiều cấp ủy đã coi trọng tổ chức thanh tra, kiểm tra, chú trọng kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, kịp thời ngăn chặn và hạn chế đảng viên mắc khuyết điểm, góp phần giáo dục đảng viên vi phạm phấn đấu vươn lên. Qua đó, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ, số chi bộ yếu kém giảm, chi bộ trong sạch, vững mạnh ngày càng tăng.

Trong ba năm qua, gắn với thực hiện Chỉ thị 29 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi thẻ đảng viên, toàn Đảng đã giáo dục, giúp đỡ được 317.868 đảng viên khắc phục được những yếu kém và 24.139 đảng viên vi phạm tư cách sửa chữa, tiến bộ. ở nhiều cơ sở đảng, việc xử lý kỷ luật và giáo dục đảng viên vi phạm đã trở thành một trong các yếu tố quyết định giúp tháo gỡ các mâu thuẫn, tạo sự ổn định. Thực tiễn cho thấy, việc các đảng bộ coi trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng, giúp đỡ đảng viên vi phạm sửa chữa khuyết điểm, phấn đấu vươn lên đã thực sự góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng và chất lượng đảng viên, củng cố thêm niềm tin của quần chúng đối với Đảng.

TRẦN THU THUỶ
Bài cùng chuyên mục
Quyết và làm    (20/9/2006)
GIỚI THIỆU TẠP CHÍ IN
Số 1 - 2012
Tra cứu tạp chí :
VIDEO CLIPS